Bác sĩ Hồ Quốc Hoa, Chủ nhiệm Khoa Y học Cổ truyền tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Thượng Hải, là một chuyên gia y học cổ truyền hàng đầu quốc gia, danh y nổi tiếng của Thượng Hải và là truyền nhân đời thứ tư của liệu pháp Phụ khoa Chu thị – một di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Với hơn năm mươi năm kinh nghiệm lâm sàng phong phú và y thuật tinh xảo trong phụ khoa Y học cổ truyền, bác sĩ Hồ đã đạt được nhiều thành tựu lớn.
Bài thuốc Tướng Quân Trảm Quan Thang là một phương thuốc gia truyền của Phụ khoa Chu thị, được sáng tạo bởi Chu Nam Sơn – người khai sáng lưu phái này. Sau đó, danh y Chu Nam Tôn – truyền nhân đời thứ ba và là Quốc y đại sư, đã gia giảm và phát triển phương thuốc gốc để ứng dụng trong điều trị các chứng huyết bệnh phụ khoa ở giai đoạn xuất huyết, mang lại hiệu quả cao.
Bài thuốc này có thể được gia giảm theo biện chứng để điều trị nhiều bệnh lý xuất huyết phụ khoa bất thường do hàn, nhiệt, hư kèm ứ, như xuất huyết do tăng sản nội mạc tử cung, u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung, viêm nội mạc tử cung, cũng như xuất huyết tử cung cơ năng.
Kế thừa tinh thần của Phụ khoa Chu thị, bác sĩ Hồ Quốc Hoa quan niệm bệnh cơ của băng lậu chủ yếu là hư, nhiệt, ứ. Ông nhấn mạnh nguyên tắc “chỉ huyết bất vong trừng nguyên” (cầm máu nhưng không quên tìm rõ căn nguyên), chủ trương “thông sáp tịnh dụng, khí huyết đồng điều” (vừa thông vừa sáp, điều hòa cả khí và huyết). Trên lâm sàng, ông lấy Tướng Quân Trảm Quan Thang làm cơ sở, gia giảm linh hoạt theo biện chứng, mang lại nhiều kết quả vượt trội.
Người viết may mắn được theo học dưới sự chỉ dạy của bác sĩ Hồ. Nay xin tổng hợp và chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng Tướng Quân Trảm Quan Thang cùng các gia giảm của bác sĩ Hồ trong điều trị băng lậu, gửi đến đồng nghiệp tham khảo.
Tướng Quân Trảm Quan Thang
Tướng Quân Trảm Quan Thang (Phương của Chu Nam Sơn)
Thành phần: Thục quân thán 3g, A giao (sao bồ hoàng) 9g, Ba kích thiên 18g, Tiên hạc thảo 18g, Phục thần 9g, Hoàng kỳ 4.5g, Sao đương quy 9g, Sao bạch truật 4.5g, Sinh địa hoàng 6g, Thục địa hoàng 6g, Tiêu cốc nha 9g, Tàng hồng hoa 0.9g, Tam thất phấn 0.9g. Uống với nước trà đen.
Giải thích phương: Trong phương này, Thục quân thán và A giao (sao bồ hoàng) là quân dược. A giao (sao bồ hoàng) có tác dụng khứ ứ, bổ huyết, chỉ huyết; Thục quân thán thanh nhiệt, hoạt huyết. Danh y Chu Nam Tôn cho rằng Thục quân thán không những không có tác dụng tả hạ mà còn giúp kiện vị, kích thích ăn uống, đồng thời có công năng thanh nhiệt khứ ứ. Hai vị thuốc phối hợp, đạt hiệu quả “thông nhân thông dụng” (thông tắc để đạt mục đích thông), khứ ứ tức là chỉ huyết.
Thần dược bao gồm: Ba kích thiên bổ thận trợ dương để ôn đốc mạch; Tiên hạc thảo dưỡng huyết chỉ huyết; Tàng hồng hoa hoạt huyết khứ ứ; Tam thất hóa ứ chỉ huyết. Bốn vị này giúp quân dược ích khí nhiếp huyết. Hoàng kỳ bổ khí cố biểu; Sinh địa hoàng, Thục địa hoàng tư âm bổ huyết; Đương quy bổ huyết hoạt huyết; Bạch truật kiện tỳ ích khí, vận dụng phép Tứ Quân, Tứ Vật để ích khí dưỡng huyết, bổ hư. Phục thần kiện tỳ an thần; Tiêu cốc nha tiêu thực hòa vị.
Trà đen có tính lương, vị đắng ngọt, công năng thanh nhiệt hóa đàm, tiêu thực. Dùng nước trà đen để uống, vừa có thể hỗ trợ Thục quân thán thanh uất nhiệt, vừa kiện tỳ tiêu thực, cố hộ hậu thiên. Toàn phương bổ khí huyết mà khứ tà khí còn lại, khứ ứ mà không tổn thương chính khí, thích hợp cho các chứng băng lậu nghiêm trọng có hư kèm thực.
Tướng Quân Trảm Quan Thang (Phương của Chu Nam Tôn)
Thành phần: Bồ hoàng thán 20g, Thục quân thán 6g, Bào khương thán 6g, Thiên thảo 15g, Ích mẫu thảo 20g, Tiên hạc thảo 15g, Tang phiêu tiêu 12g, Hải phiêu tiêu 12g, Tam thất phấn (uống nuốt) 2g.
Giải thích phương: Danh y Chu Nam Tôn dựa trên phương gốc để gia giảm, lấy Thục quân thán và Bào khương thán làm quân dược. Thục quân thán thanh nhiệt, lương huyết, khứ ứ; Bào khương thán ôn kinh, chỉ huyết, có tác dụng cố thủ mà không thoát. Hai vị thuốc này một hàn một nhiệt, một hành một thủ, sáp mà không trệ, động mà không liệt, hàn nhiệt tương tế, thông sáp cùng lúc, là cặp dược thường dùng để điều trị huyết băng hoặc lậu hạ có kèm huyết ứ.
Bồ hoàng có thể hóa ứ thông kinh, chỉ huyết sáp đới, tán kết tiêu trướng, thông lâm lợi niệu. Ích mẫu thảo hoạt huyết khứ ứ, phối hợp với Tiên hạc thảo dưỡng huyết chỉ huyết. Thiên thảo chuyên về hoạt huyết hóa ứ chỉ huyết. Tam thất phấn là vị thuốc quý để hóa ứ chỉ huyết. Bốn vị thuốc này kết hợp, vừa thông vừa sáp, vừa công vừa bổ.
Tang phiêu tiêu là vị thuốc tác động vào can, thận, mệnh môn, chuyên về thu sáp. Hải phiêu tiêu là thuốc vào huyết phận quyết âm, vị mặn đi vào huyết để thu sáp. Hai vị phối hợp để ích thận nhiếp xung. Toàn phương thông sáp cùng dùng, lấy thông làm chủ, công ẩn trong bổ, tương đắc ích chương (bổ trợ lẫn nhau).
Ví Dụ Lâm Sàng
Bệnh nhân nữ, 42 tuổi, đến khám lần đầu ngày 04/06/2025. Lý do đến khám: Xuất huyết âm đạo không đều kéo dài hơn 2 tháng chưa ngừng.
Bệnh nhân đã kết hôn, có con, sinh đủ tháng 1 lần, sảy thai 2 lần. Bình thường chu kỳ kinh nguyệt 22-24 ngày, hành kinh 7-8 ngày, lượng vừa phải, không đau bụng kinh. Kỳ kinh cuối bắt đầu từ 22/03, đã hành kinh 2 tháng rưỡi cho đến nay chưa ngừng, lượng lúc nhiều lúc ít, khi lượng nhiều kèm đau bụng và cục máu đông. Khi khám, lượng xuất huyết âm đạo ít, rỉ rả chưa dứt, kèm mệt mỏi, uể oải, sắc mặt kém tươi, không chóng mặt, hồi hộp hay khó chịu khác. Ăn uống tốt, đại tiện bình thường. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch tế huyền.
Báo cáo xét nghiệm hormone ngày 11/05 cho thấy hormone bình thường, siêu âm phụ khoa qua ngả âm đạo cho thấy nội mạc tử cung dày 10mm, âm vang đồng đều. Bác sĩ Tây y đề nghị nạo buồng tử cung chẩn đoán, bệnh nhân từ chối phẫu thuật và tìm đến Y học cổ truyền.
Chẩn đoán Y học cổ truyền: Băng lậu (Thận hư kèm ứ, Xung Nhâm bất cố).
Pháp trị: Ích khí bổ thận, hóa ứ cố xung.
Đơn thuốc: Sinh hoàng kỳ 18g, Thái tử sâm 12g, Sao bạch thược 9g, Thiên thảo 18g, Hoa nhụy thạch 18g, Bào khương 6g, Thăng ma 9g, Tiên hạc thảo 30g, A giao châu 9g, Xuyên đoạn 12g, Đỗ trọng 12g, Đại kế 18g, Tiểu kế 18g. 7 thang, 1 thang/ngày, sắc uống, chia 2 lần/ngày.
Ngày 11/06, tái khám lần 2: Sau khi dùng thuốc, huyết đã ngừng vào ngày 07/06. Hiện bệnh nhân cảm thấy đau trằn bụng dưới, đới hạ nhiều, màu trắng, kèm ngứa âm đạo. Tình trạng mệt mỏi, uể oải được cải thiện, ăn uống tốt, ngủ ngon, đại tiện bình thường. Mạch tế huyền, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng. Sau khi huyết ngừng, pháp trị được điều chỉnh sang ích thận kiện tỳ, điều nhiếp Xung Nhâm.
Đơn thuốc: Sinh hoàng kỳ 18g, Thái tử sâm 12g, Sao hoài sơn dược 18g, Nữ trinh tử 9g, Thỏ ty tử 18g, Mặc hạn liên 12g, Tiên hạc thảo 30g, Bào khương 6g, Xuyên đoạn 12g, Đỗ trọng 12g, A giao châu 9g, Phục linh 18g, Phục thần 18g. 14 thang, 1 thang/ngày, sắc uống, chia 2 lần/ngày.
Ngày 25/06, tái khám lần 3: Sau khi dùng thuốc không tái phát, huyết đã ngừng được 18 ngày, tinh thần dần hồi phục, đới hạ bình thường. Khi mệt mỏi cảm thấy tức ngực, hồi hộp, không đau lưng, đau bụng, ngủ kém. Đại tiện bình thường. Mạch tế huyền, lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng.
Đơn thuốc: Sinh hoàng kỳ 18g, Thái tử sâm 12g, Sao bạch truật 9g, Sao bạch thược 9g, Nữ trinh tử 9g, Mặc hạn liên 12g, Tiên hạc thảo 30g, Hồng cảnh thiên 12g, Mạch đông 9g, Sơn thù du 9g, Phục linh 18g, Phục thần 18g, Toan táo nhân 15g. 14 thang, 1 thang/ngày, sắc uống, chia 2 lần/ngày.
Bàn luận: Bệnh nhân xuất huyết âm đạo bất thường hơn hai tháng, thuộc phạm vi “Băng lậu” trong Y học cổ truyền. Quan sát khi khám lần đầu, kinh huyết rỉ rả khó cầm, kèm theo mệt mỏi uể oải, sắc mặt kém tươi, lưỡi đỏ, mạch tế huyền. Đây là tình trạng thận khí hư yếu, Xung Nhâm mất khả năng cố nhiếp, đồng thời có ứ huyết nội trở, huyết không về kinh.
Phụ khoa Chu thị cho rằng, điều trị băng lậu, trước tiên cần tuần tự theo ba pháp “Tắc lưu” (cầm máu), “Trừng nguyên” (làm rõ căn nguyên) và “Phục cựu” (phục hồi như cũ). Tuy nhiên, trên lâm sàng thường cần công bổ kiêm thi (vừa công vừa bổ), thông sáp tịnh dụng (vừa thông vừa sáp).
Bài thuốc Tướng Quân Trảm Quan Thang nguyên là kinh nghiệm phương của danh y Chu Nam Tôn để điều trị chứng huyết băng nặng, có công năng ích khí hóa ứ, cố xung chỉ huyết. Trong trường hợp này, bác sĩ Hồ đã noi theo pháp trị mà không câu nệ vào phương gốc. Lần khám đầu, ông dùng Sinh hoàng kỳ, Thái tử sâm để ích khí nhiếp huyết làm quân dược; Xuyên đoạn, Đỗ trọng bổ thận cố xung; A giao châu, Tiên hạc thảo dưỡng huyết chỉ huyết; kết hợp với Thiên thảo, Hoa nhụy thạch, Đại kế, Tiểu kế để hóa ứ lương huyết, giúp cầm máu mà không để lại huyết ứ; Bào khương ôn kinh đồng thời ngăn ngừa hàn lương quá mức; Thăng ma thăng cử thanh dương, phù hợp với nguyên tắc “hạ huyết tất thăng cử” (huyết chảy xuống ắt phải thăng lên). Toàn phương phù chính hóa ứ, công bổ kiêm cố, do đó sau 7 thang huyết đã ngừng.
Lần tái khám thứ hai, sau khi huyết ngừng, chuyển sang giai đoạn “Trừng nguyên” và “Phục cựu”. Bệnh nhân có biểu hiện đau trằn bụng dưới, đới hạ và ngứa âm đạo, cho thấy huyết mất gây tổn thương chính khí, tỳ thận đều hư, tà thấp mới chớm. Phương thuốc được chuyển sang ích thận kiện tỳ, phối hợp hóa thấp. Hoàng kỳ, Thái tử sâm, Hoài sơn dược, Phục linh kiện tỳ ích khí; Nữ trinh tử, Mặc hạn liên, Thỏ ty tử, Xuyên đoạn, Đỗ trọng bổ thận điền tinh; Phục linh, Phục thần kiện tỳ an thần; dùng chút Bào khương để ôn trung. Pháp trị cân bằng, nhờ đó đới hạ đã điều hòa.
Lần tái khám thứ ba, huyết đã ngừng vững chắc, nhưng bệnh nhân vẫn cảm thấy hồi hộp sau khi mệt mỏi, ngủ kém, lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, rõ ràng là âm huyết hao tổn, tâm mất sự nuôi dưỡng. Vì vậy, dùng Hoàng kỳ, Thái tử sâm bổ khí sinh huyết; Nữ trinh tử, Mặc hạn liên, Sơn thù du tư thận âm; Mạch đông, Toan táo nhân dưỡng tâm an thần; Hồng cảnh thiên ích khí hoạt huyết, cải thiện tâm mạch; Phục linh, Phục thần kiện tỳ ninh tâm. Toàn phương điều hòa cả tâm, tỳ, thận, trị liệu cả khí và huyết, nhằm phục hồi sức khỏe như cũ.
Nhìn chung toàn bộ quá trình điều trị, bác sĩ Hồ Quốc Hoa đã tuân thủ chặt chẽ bệnh cơ, trình tự rõ ràng: Lần khám đầu tiên hóa ứ cố xung để “trảm quan” cầm máu, phỏng theo sự sắc bén của vị tướng quân; sau đó kiện tỳ ích thận, dưỡng huyết an thần để đạt được toàn bộ công hiệu. Điều này thể hiện tư tưởng học thuật của Phụ khoa Chu thị trong điều trị băng lậu là “lúc nguy cấp thì hóa ứ chỉ huyết để an chính khí, lúc ổn định thì bổ thận điều hòa chu kỳ để củng cố gốc rễ”.
(Tác giả: Từ Hải Hà, Bệnh viện Nhân dân số 2 Thượng Hải)
(Lưu ý: Các bài thuốc và phương pháp điều trị trong bài viết chỉ nên được sử dụng dưới sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.)







