Tiêu Dao Tán là một phương tễ kinh điển và được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng Y Học Cổ Truyền (YHCT). Với công năng chủ yếu là Sơ Can Giải Uất và Kiện Tỳ Dưỡng Huyết, phương thuốc này đặc biệt hiệu quả trong việc điều trị các bệnh lý liên quan đến rối loạn tình chí và các vấn đề về hệ thần kinh. Trong lịch sử YHCT, Tiêu Dao Tán được ca ngợi là “thánh dược của khoa phụ nữ” nhờ những tác dụng vượt trội đối với sức khỏe nữ giới. Trải qua các triều đại, các y gia đã không ngừng mở rộng phạm vi ứng dụng của Tiêu Dao Tán, đưa phương tễ này vào điều trị trong nhiều chuyên khoa khác nhau như nội khoa, ngoại khoa và phụ khoa, chứng tỏ giá trị và tính linh hoạt của nó.
Giả Việt Tiến (Jia Yuejin) là một Danh Y Y Học Cổ Truyền nổi tiếng của tỉnh Sơn Tây, đồng thời là Giảng viên hướng dẫn công tác kế thừa kinh nghiệm học thuật của chuyên gia lão y dược toàn quốc khóa VI, và là Chủ nhiệm Bác sĩ tại Bệnh viện trực thuộc Đại học Y Học Cổ Truyền Sơn Tây. Với hơn 40 năm kinh nghiệm trong công tác lâm sàng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học, ông đã tích lũy được khối lượng kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Trong quá trình hành nghề, Bác sĩ Giả Việt Tiến đã có những tâm đắc sâu sắc trong việc ứng dụng Tiêu Dao Tán. Ông thường xuyên sử dụng phương tễ này, linh hoạt gia giảm tùy theo chứng trạng để điều trị nhiều loại tạp bệnh nội khoa. Dưới đây là những kinh nghiệm ứng dụng và ba án bệnh điển hình của ông.
Ba Yếu Điểm Then Chốt Trong Ứng Dụng Tiêu Dao Tán
Để ứng dụng Tiêu Dao Tán một cách hiệu quả trong lâm sàng, điều kiện tiên quyết là phải thực hiện Tứ Chẩn Hợp Tham (kết hợp bốn phương pháp chẩn đoán: Vọng, Văn, Vấn, Thiết) và Biện Chứng Phân Tích (phân tích biện chứng) kỹ lưỡng. Sau đó, cần xem xét bệnh nhân có hội tụ đủ ba yếu điểm then chốt sau đây hay không: Can Uất, Tỳ Hư và Huyết Hư.
1. Can Uất: Biểu Hiện và Cơ Chế Bệnh Sinh
Các triệu chứng của Can Uất thường biểu hiện qua sự rối loạn cảm xúc như bứt rứt, dễ cáu gắt (phiền táo dị nộ) hoặc lo âu, trầm uất (tiêu lự uất ức). Kèm theo đó là các dấu hiệu thể chất như sườn chướng đầy (hiếp lặc trướng mãn), không muốn giao tiếp, tâm trạng buồn bã, chán nản. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, với sự cạnh tranh gay gắt và áp lực cuộc sống ngày càng lớn, tình trạng Can Khí Uất Trệ (khí của Can bị đình trệ) trở nên phổ biến. Theo lý luận YHCT, Can Uất không phải là một tình trạng độc lập mà thường có mối liên hệ mật thiết với Tỳ Hư và Huyết Hư.
Sách “San Bổ Danh Y Phương Luận” đã lý giải rõ ràng: “Mà sở dĩ Can Mộc uất, thuyết có hai: một là Thổ hư không thể thăng Mộc, hai là Huyết thiếu không thể dưỡng Can. Bởi lẽ Can là khí Mộc, hoàn toàn dựa vào Tỳ Thổ để tư bẩm, Thủy để quán cái. Nếu Trung Thổ hư, thì Mộc không thăng mà uất. Âm Huyết thiếu, thì Can không được tư nhuận mà khô héo.” Điều này nhấn mạnh vai trò của Tỳ Thổ và Huyết đối với Can. Can thuộc Mộc, cần được Tỳ Thổ vận hóa các tinh vi vật chất để nuôi dưỡng và bồi bổ. Nếu Tỳ hư yếu, công năng vận hóa suy giảm, Can không được nuôi dưỡng đầy đủ sẽ không thể thăng phát một cách bình thường, dẫn đến các biểu hiện lo âu, trầm uất. Tương tự, Can tàng Huyết, khi Huyết hư cũng sẽ khiến Can thất nhuận dưỡng, gây ra các triệu chứng như dễ cáu gắt, nóng nảy (Can Dương thượng kháng).
Can chủ điều đạt, thích sự thông sướng, không thích bị uất trệ. Trong Tiêu Dao Tán, Sài Hồ được sử dụng để Sơ Can Giải Uất, giúp Can khí lưu thông. Cam Thảo có tác dụng hoãn Can cấp, đồng thời bổ trung và điều hòa các vị thuốc khác trong phương tễ. Bạc Hà giúp thấu đạt Can kinh uất nhiệt, làm cho Can khí thông thoát ra ngoài. Đương Quy và Bạch Thược có nhiệm vụ bổ Can chi thể (nuôi dưỡng Can), trợ Can chi dụng (giúp Can thực hiện chức năng). Khi Huyết hòa thì Can hòa, Huyết sung túc thì Can mềm mại, điều đạt. Y gia Triệu Hiến Khả (Zhao Xianke) đời Minh trong “Y Quán” đã dành lời ca ngợi cao cho Tiêu Dao Tán: “Tôi dùng một phương để trị Can Mộc uất, mà các chứng uất khác đều vì đó mà khỏi. Một phương đó là gì? Chính là Tiêu Dao Tán.” Điều này cho thấy vai trò trung tâm của Tiêu Dao Tán trong việc điều trị các bệnh lý do Can Uất.
2. Tỳ Hư: Tương Quan Với Can Uất và Biểu Hiện Lâm Sàng
Can Uất có thể dẫn đến Tỳ Hư, điều này đã được đề cập trong “Kim Quỹ Yếu Lược” với câu nói nổi tiếng: “Kiến Can chi bệnh, tri Can truyền Tỳ, đương tiên thực Tỳ” (Khi thấy bệnh của Can, biết Can sẽ truyền sang Tỳ, cần phải thực Tỳ trước). Ngược lại, Tỳ Hư cũng có thể gây ra Can Uất. Trong thực tế lâm sàng, bệnh nhân Tỳ Hư thường biểu hiện các triệu chứng như ăn ít, chán ăn (thực thiểu nạp ngốc), tứ chi mỏi mệt (tứ chi quyện đãi), tinh thần uể oải, mệt mỏi (thần bì phạp lực), bụng chướng, tiêu lỏng (phúc trướng tiện đường), lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng (thiệt bàng đới xỉ ngân, đài bạch). Trong Tiêu Dao Tán, Phục Linh, Bạch Truật và Cam Thảo là các vị thuốc chủ lực giúp Kiện Tỳ Ích Khí, làm cho Tỳ vị có khả năng vận hóa mạnh mẽ, từ đó đảm bảo nguồn sinh hóa Khí Huyết dồi dào cho cơ thể. Sự kiện Tỳ này không chỉ cải thiện chức năng tiêu hóa mà còn gián tiếp hỗ trợ Can, ngăn chặn vòng xoắn bệnh lý giữa Can và Tỳ.
3. Huyết Hư: Ảnh Hưởng Đến Can Tỳ và Biểu Hiện Âm Hư Nội Nhiệt
Can tàng Huyết, Tỳ sinh Huyết và thống Nhiếp Huyết (quản lý và điều tiết Huyết), là nguồn gốc của sự sinh hóa Khí Huyết. Khi chức năng Can và Tỳ rối loạn, Khí Huyết sẽ không có nguồn sinh hóa đầy đủ, dẫn đến Huyết Hư. Huyết Hư sẽ khiến Can Tỳ mất đi sự nhuận dưỡng cần thiết, Can mất điều đạt, Tỳ mất kiện vận. Trên lâm sàng, bệnh nhân Huyết Hư thường có các biểu hiện của Âm Huyết bất túc và hư nhiệt nội sinh, ví dụ như ngũ tâm phiền nhiệt (nóng ở lòng bàn tay, bàn chân và vùng tim), sốt từng cơn kèm đổ mồ hôi trộm (phát nhiệt đạo hãn), miệng khô họng ráo (khẩu táo yết can), cốt chưng triều nhiệt (nóng âm ỉ trong xương như hơi nước bốc lên theo chu kỳ). Trong Tiêu Dao Tán, Đương Quy và Bạch Thược là hai vị thuốc chính có tác dụng Dưỡng Huyết Hòa Huyết. Sách “Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương” đã ghi rõ trong các chủ trị của Tiêu Dao Tán, đầu tiên là “Huyết hư lao quyện”, và còn có “liệu thất nữ Huyết nhược Âm hư”. Điều này cho thấy Tiêu Dao Tán được lập phương với ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc điều trị các chứng Huyết Hư, đặc biệt là ở phụ nữ.
Tổng Kết Về Ba Yếu Điểm: Can Uất, Tỳ Hư, Huyết Hư
Tóm lại, Can Uất, Tỳ Hư và Huyết Hư không phải là ba tình trạng độc lập mà chúng có mối quan hệ tương hỗ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách phức tạp. Trong thực hành lâm sàng, việc nắm bắt ba yếu điểm này là chìa khóa để ứng dụng Tiêu Dao Tán một cách hiệu quả. Trong phương tễ này, Sài Hồ và Bạc Hà có tác dụng giải Can Uất, giúp Can khí thông sướng. Đương Quy và Bạch Thược giúp bổ dưỡng Huyết Hư, làm cho Can được nuôi dưỡng đầy đủ. Phục Linh, Bạch Truật và Cam Thảo bổ ích Tỳ Hư, tăng cường chức năng vận hóa của Tỳ vị. Nhờ sự phối hợp hài hòa của các vị thuốc này, Tiêu Dao Tán đạt được mục tiêu điều hòa Can Tỳ, làm cho Khí Huyết lưu thông thuận lợi, từ đó các chứng bệnh sẽ dần được thuyên giảm.
Linh Hoạt Gia Giảm Trong Ứng Dụng Tiêu Dao Tán Của Bác Sĩ Giả Việt Tiến
Bác sĩ Giả Việt Tiến đã phát triển những kinh nghiệm quý báu trong việc gia giảm Tiêu Dao Tán để phù hợp với từng thể bệnh và biến chứng khác nhau:
1. Khi Can Uất Hóa Hỏa: Thanh Nhiệt Giải Uất
Nếu Can Uất lâu ngày hóa hỏa, các triệu chứng nhiệt sẽ nặng hơn, biểu hiện là bạo táo dị nộ (cáu gắt dữ dội), miệng khô lưỡi ráo (khẩu can thiệt táo), miệng đắng họng khô (khẩu khổ yết can), lưỡi đỏ rìa, rêu lưỡi vàng nhớt (thiệt biên hồng xích, đài hoàng nị). Trong trường hợp này, Bác sĩ Giả Việt Tiến thường mô phỏng Đan Chi Tiêu Dao Tán được ghi chép trong “Nội Khoa Trích Yếu” của Tiết Kỷ (Xue Ji) đời Minh. Tuy nhiên, do Chi Tử (Dành dành) có tính khổ hàn, dễ làm hại Tỳ Vị, nên khi sử dụng cần phải sao chế và không nên dùng lâu dài. Đồng thời, không dùng cho bệnh nhân vị trung hàn hư không thể uống thuốc lạnh. Do đó, trong lâm sàng, Bác sĩ Giả thường dùng các vị thuốc khác thay thế Chi Tử như Bách Hợp, Tri Mẫu, Hoàng Cầm, Kim Ngân Hoa, Lô Căn.
Cụ thể, đối với những bệnh nhân có Âm hư nội nhiệt ở Tâm Vị, Bác sĩ Giả thường dùng Bách Hợp. Đối với trường hợp toàn thân nóng, ra mồ hôi nhiều, ông thường dùng Tri Mẫu để tư âm giáng hỏa. Khi có nhiệt ở Thượng tiêu, Hoàng Cầm là lựa chọn ưu tiên để thanh nhiệt táo thấp. Đối với các biểu hiện ban đỏ, mẩn ngứa trên mặt, Kim Ngân Hoa được thêm vào để thanh nhiệt giải độc. Còn khi bệnh nhân có triệu chứng miệng khô muốn uống nước (khẩu can dục ẩm), Lô Căn được sử dụng để thanh nhiệt sinh tân, giải khát.
2. Khi Kiêm Có Can Thận Khuy Hư: Tư Bổ Can Thận
Nếu bệnh nhân kiêm chứng Can Thận Khuy Hư, biểu hiện qua các triệu chứng như đau lưng mỏi gối (yêu tất toan nhuyễn), ù tai, điếc tai (nhĩ lung nhĩ minh), di tinh, liệt dương (di tinh dương nuy), Bác sĩ Giả Việt Tiến thường mô phỏng Hắc Tiêu Dao Tán được ghi chép trong “Y Tông Kỷ Nhậm Biên”. Công thức này là Tiêu Dao Tán gia thêm Thục Địa và Sơn Thù Du. Thục Địa có tác dụng tư âm bổ huyết, ích tinh tủy. Sơn Thù Du có công năng bổ ích Can Thận, liễm hãn cố tinh. Sự kết hợp này nhằm mục đích bổ sung Can Thận, nuôi dưỡng tinh huyết, từ đó cải thiện các triệu chứng liên quan đến Can Thận khuy hư, đồng thời vẫn giữ được khả năng Sơ Can của Tiêu Dao Tán.
3. Khi Có Huyết Ứ Trệ: Hoạt Huyết Hóa Ứ
Nếu Can Uất hóa hỏa lâu ngày làm hao tổn Âm Huyết, dẫn đến Huyết hành không thông, huyết ứ trở trệ, bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng như da dẻ khô ráp, sần sùi (cơ phu giáp thác), giãn tĩnh mạch (tĩnh mạch khúc trương), lưỡi tím có điểm ứ huyết (thiệt ám ứ ban). Trong trường hợp này, Bác sĩ Giả thường phối hợp thêm các vị thuốc Hoạt Huyết Hóa Ứ như Đào Nhân, Hồng Hoa, Ngưu Tất, Nga Truật, Địa Long. Đào Nhân và Hồng Hoa giúp phá huyết hành ứ, thông kinh lạc. Ngưu Tất dẫn thuốc đi xuống hạ tiêu, hoạt huyết thông kinh. Nga Truật hành khí phá huyết, tiêu tích. Địa Long thông kinh hoạt lạc, giải ứ trệ.
Nếu tình trạng ứ trệ nghiêm trọng, đã hình thành Chứng Hám Tích Tụ (khối u tích tụ), biểu hiện bằng các nốt u, hạch như u tuyến giáp (giáp trạng kết tiết), u vú (nhũ tuyến kết tiết), Bác sĩ Giả sẽ mô phỏng Tiêu Dao Lâu Bối Tán, phối hợp thêm Qua Lâu, Chiết Bối Mẫu, Đảm Nam Tinh. Qua Lâu có tác dụng thanh nhiệt hóa đờm, tán kết. Chiết Bối Mẫu hóa đờm tán kết, tiêu thũng. Đảm Nam Tinh thanh nhiệt hóa đờm, an thần định kinh. Sự kết hợp này nhằm mục đích vừa Sơ Can Giải Uất, Kiện Tỳ Dưỡng Huyết, vừa Hoạt Huyết Hóa Ứ, nhuyễn kiên tán kết để xử lý các khối tích tụ do ứ huyết đờm trệ gây ra.
Ví Dụ Lâm Sàng Điển Hình
Ca Bệnh 1: Chứng Chiến (Run rẩy)
Bệnh nhân: Bà Đổng, nữ, 65 tuổi, lần đầu khám vào ngày 4 tháng 9 năm 2023. Triệu chứng chính: Run đầu và lưỡi không liên tục 3 năm, nặng hơn 2 ngày. 2 ngày trước, bệnh nặng hơn do cảm phong tà và lo lắng vì chồng nhập viện. Hiện tại: Thỉnh thoảng đầu và lưỡi run không tự chủ, mặt thỉnh thoảng co giật, mặt trái cứng đơ, họng đau, khản tiếng, không muốn ăn, đầy bụng sau ăn, có thể uống đồ lạnh, ngủ được, tâm phiền cáu gắt, thần bì lực kém. Đại tiện, tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch huyền. Chụp CT sọ não: Nhồi máu não đa ổ vùng hạch nền hai bên, xốp chất trắng cạnh sừng não thất bên hai bên, xơ vữa động mạch cảnh trong hai bên. Tiền sử: Từng bị co thắt cơ mặt 15 năm trước.
Chẩn đoán: Chiến Chứng (Can Tỳ bất điều, ứ huyết trở trệ).
Đơn thuốc ban đầu: Đương Quy 15g, Bạch Thược 20g, Sao Bạch Truật 20g, Phục Linh 30g, Sài Hồ 10g, Hương Phụ 10g, Hoàng Cầm 12g, Sao Khương Tằm 10g, Thiên Ma 15g, Thiền Thoái 10g, Cát Căn 20g, Sao Lai Phục Tử 18g. 7 thang, sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Tái khám ngày 11 tháng 9: Sau khi uống thuốc, khản tiếng đỡ hơn, mặt cứng đơ biến mất, nhưng đầu và lưỡi vẫn thỉnh thoảng run. Ăn uống được, ngủ yên, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch huyền. Giữ nguyên đơn trên, gia Trần Bì 10g. 7 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 14 tháng 9: Khản tiếng đỡ rõ rệt, vẫn thỉnh thoảng run đầu và lưỡi, họng khô, không muốn uống nước, sáng sớm nôn, ngủ được, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch tế huyền. Xét thấy triệu chứng Tỳ Vị bất hòa nặng hơn, dùng phương Hương Sa Lục Quân Tử gia giảm: Hương Phụ 10g, Sa Nhân (cho sau) 6g, Thái Tử Sâm 15g, Sao Bạch Truật 20g, Thanh Bán Hạ 9g, Trần Bì 10g, Phục Linh 30g, Thiên Ma 10g, Lô Căn 20g, Trúc Như 10g, Sao Kê Nội Kim 20g, Sinh Mạch Nha 30g. 7 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 21 tháng 9: Sau khi uống thuốc trên, co giật mặt đỡ rõ rệt, dạ dày dễ chịu, ăn uống được, ngủ yên, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch huyền. Giữ nguyên đơn trên, gia Thiên Ma 18g, Bạch Thược 15g. 7 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 12 tháng 10: Đầu thỉnh thoảng run, khi căng thẳng nặng hơn, ăn ngủ được, tai ngứa, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch huyền. Vẫn dùng Tiêu Dao Tán gia giảm. Đơn thuốc: Đương Quy 15g, Bạch Thược 30g, Sài Hồ 10g, Hương Phụ 10g, Sao Bạch Truật 15g, Phục Linh 20g, Thái Tử Sâm 20g, Thiên Ma 15g, Sao Khương Tằm 10g, Cát Căn 20g, Xuyên Luyện Tử 10g, Sinh Mạch Nha 30g, Tang Chi 30g. 7 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 30 tháng 10: Ngứa tai đỡ rõ rệt, không tê, cứng mặt, ăn ngủ được, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch huyền. Giữ nguyên đơn trên, gia Thiền Thoái 10g. 7 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 9 tháng 11: Hết ngứa toàn thân, run tay đỡ rõ rệt. Mặt thỉnh thoảng co giật, gần đây ăn kém, ngủ yên, gần đây đại tiện lỏng. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch huyền tế. Đơn cao phương: Chích Hoàng Kỳ 300g, Đảng Sâm 200g, Sao Bạch Truật 200g, Phục Linh 300g, Sao Hoài Sơn 300g, Sa Nhân (cho sau) 100g, Đương Quy 120g, Bạch Thược 300g, Thiên Ma 200g, Cát Căn 200g, Hương Phụ 120g, Nguyên Hồ 120g, Uất Kim 120g, Tang Chi 200g, Sao Ý Dĩ Nhân 200g, Phù Bình 100g, Trần Bì 120g, Sinh Mạch Nha 300g, Quy Giáp Giao (hòa tan) 200g, A Giao (hòa tan) 100g, Mật Ong 300g, Hoàng Tửu 200ml. Sắc thuốc thành cao, uống mỗi ngày 10g vào sáng và tối.
Phân tích ca bệnh: Bệnh nhân có triệu chứng chính là run đầu, lưỡi, mặt co giật, tay run, nặng hơn khi cảm phong tà và căng thẳng tinh thần. Trong YHCT, “phong thắng tắc động” (phong thịnh thì sinh động), run rẩy là biểu hiện của phong động. Sách “Tố Vấn” có câu “chư phong điệu huyễn, giai thuộc ư Can” (các chứng phong run, chóng mặt đều thuộc về Can), chỉ ra rằng bệnh này có mối liên hệ mật thiết với Can. Can thất sơ tiết, Can phong nội động, cân mạch mất nuôi dưỡng thì sinh ra bệnh này. Hơn nữa, Can Uất hóa hỏa, làm hao tổn Âm Huyết, nên cũng thấy triệu chứng họng đau, khản tiếng. Không muốn ăn, đầy bụng sau ăn, lưỡi bệu cho thấy Tỳ Hư thấp thịnh, công năng vận hóa suy giảm, và điều này lại tương hỗ với Can Khí Uất Trệ, là biểu hiện của Can Tỳ bất điều. Ca bệnh này hoàn toàn phù hợp với ba yếu điểm Can Uất, Tỳ Hư, Huyết Hư.
Do đó, trong lần khám đầu tiên, phương chủ trị là Tiêu Dao Tán để Sơ Can Giải Uất, Kiện Tỳ Ích Khí, Dưỡng Huyết Nhu Can. Đồng thời, dùng Thiên Ma, Khương Tằm, Thiền Thoái để Bình Can Tức Phong, Khứ Phong Chỉ Kinh. Sao Lai Phục Tử để Thông Phủ Tiết Trọc, kết hợp Cát Căn để Thăng Thanh Dương, cùng hiệp đồng điều hòa khí cơ. Đến lần tái khám thứ ba, các triệu chứng Tỳ Vị bất hòa của bệnh nhân trở nên rõ rệt. Tỳ là hậu thiên chi bản (gốc của hậu thiên), nên đã đổi sang Hương Sa Lục Quân Tử gia giảm để tăng cường Kiện Tỳ, Hòa Vị, Giáng Nghịch. Sau khi Tỳ Vị được điều hòa, lại quay lại dùng Tiêu Dao Tán gia giảm để tiếp tục điều trị. Tuy nhiên, bệnh nhân đã cao tuổi, bệnh tình đã lâu ngày, “cửu bệnh nhập lạc” (bệnh lâu ngày xâm nhập kinh lạc) và “cửu bệnh tất ứ” (bệnh lâu ngày tất sinh ứ huyết). Kết quả chụp CT sọ não cũng cho thấy rõ ràng có dấu hiệu ứ trệ ở não và động mạch cảnh trong. Vì vậy, trong lần khám thứ bảy, đã chuyển sang dùng Cao phương để điều hòa chậm rãi và bồi bổ dần dần. Chứng chiến thuộc loại tạp bệnh khó chữa, độ khó điều trị khá cao. Khi điều trị cần chú trọng Biện Thể, Biện Bệnh, Biện Chứng hợp nhất, trên cơ sở đó nắm vững trục chính bệnh biến Can Tỳ, linh hoạt gia giảm các phương thuốc kinh điển, kết hợp với Cao phương điều trị lâu dài, từ đó đạt được hiệu quả rõ rệt.
Ca Bệnh 2: Mất Ngủ (Thất Miên)
Bệnh nhân: Bà Ngô, nữ, 53 tuổi, lần đầu khám vào ngày 18 tháng 1 năm 2024. Triệu chứng chính: Mất ngủ 4 năm, không rõ nguyên nhân nhưng nặng hơn 1 tuần. Hiện tại: Khó vào giấc, phải mất 1-2 giờ mới ngủ được, trước khi ngủ hay lo nghĩ, thỉnh thoảng nóng người. Uống Zopiclone 1-2mg thì mỗi đêm ngủ được 6 giờ, nhưng hôm sau thần bì lực kém. Ăn uống được, thích uống đồ nóng, uống đồ lạnh thì khó chịu dạ dày, vốn tính nóng nảy dễ cáu gắt, tâm phiền, thỉnh thoảng ù tai, hai chân dưới thỉnh thoảng lạnh, đại tiểu tiện bình thường. Đầu lưỡi đỏ, mạch tế. Tiền sử: Hội chứng Meniere, viêm mũi dị ứng, hen suyễn.
Chẩn đoán: Thất Miên (Can Uất Tỳ Hư).
Đơn thuốc ban đầu: Đương Quy 15g, Bạch Thược 20g, Sao Bạch Truật 18g, Phục Thần 15g, Sài Hồ 10g, Hương Phụ 10g, Tri Mẫu 18g, Hợp Hoan Bì 20g, Trân Châu Mẫu (sắc trước) 30g, Xuyên Luyện Tử 10g, Từ Thạch (sắc trước) 20g, Sinh Mạch Nha 30g. 7 thang, sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Tái khám ngày 29 tháng 1: Trong thời gian uống thuốc, ngủ được, nhưng ngừng thuốc Đông y lại mất ngủ. Gần đây môi khô nứt nẻ, vẫn ù tai, thính lực kém, ăn uống được. Đại tiện hơi khô, tiểu tiện bình thường. Đầu lưỡi đỏ, mạch huyền. Giữ nguyên đơn trên, gia Lô Căn 30g, Trần Bì 10g. 7 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 5 tháng 2: Sau khi uống thuốc, khó vào giấc ngủ cải thiện, tuần này chỉ 1 đêm phải uống Zopiclone. 23 giờ lên giường, khoảng 0.5-1 giờ có thể ngủ được, ngủ nông dễ tỉnh, sau khi tỉnh tim đập nhanh, người nóng bừng không muốn đắp chăn, 1 giờ sau mới ngủ lại được. Có thể ngủ trưa 10 phút. Hôm sau mệt mỏi không rõ rệt, môi khô nứt nẻ đỡ hơn, vẫn ù tai bên trái nặng hơn, thỉnh thoảng đau đầu nặng trĩu, ăn uống được. Đại tiểu tiện bình thường. Đầu lưỡi đỏ, mạch huyền. Giữ nguyên đơn trên, gia Bách Hợp 30g. 14 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 28 tháng 3: Sau khi uống thuốc, ngủ được, duy trì 40 ngày, gần đây lại mất ngủ. Khó vào giấc, nặng hơn khi công việc bận rộn, gặp chuyện căng thẳng, thỉnh thoảng uống Zopiclone 1-2mg. Thỉnh thoảng người nóng bừng, nửa tiếng có thể ngủ được, mỗi đêm ngủ 5-6 giờ. Ăn uống được, thích uống đồ nóng. Thần bì lực kém, khi gặp chuyện hay hồi hộp, vẫn ù tai, cẳng chân lạnh, bàn chân lạnh. Đại tiểu tiện bình thường. Đầu lưỡi đỏ, mạch tế. Giữ nguyên đơn trên, giảm Lô Căn, Bách Hợp, gia Hoàng Liên 6g, Nhục Quế 3g. 14 thang, sắc uống như cũ.
Phân tích ca bệnh: Trong điều trị mất ngủ, Bác sĩ Giả Việt Tiến chú trọng luận trị từ Can Tỳ, cho rằng trong môi trường xã hội hiện đại, tình trạng Can Uất Tỳ Hư ngày càng gia tăng. Bệnh nhân có triệu chứng chính là mất ngủ, biểu hiện chủ yếu là khó vào giấc, kèm theo nóng người, lo nghĩ nhiều, nóng nảy dễ cáu gắt, tâm phiền, ù tai, đầu lưỡi đỏ. Những dấu hiệu này gợi ý có Can Huyết khuy hư, Can Uất hóa hỏa. Can hỏa nội động, nhiễu loạn tâm thần, nên bệnh nhân khó vào giấc ngủ. Mặc dù ăn uống được, nhưng uống đồ lạnh thì khó chịu dạ dày, kèm theo thần bì lực kém, là dấu hiệu của Tỳ thất kiện vận. Bệnh nhân có cả Can Uất, Tỳ Hư và Huyết Hư. Do đó, lần khám đầu tiên đã dùng Tiêu Dao Tán làm phương chủ gia giảm điều trị.
Ù tai có liên quan đến đường kinh Can Đởm, nên đã dùng Trân Châu Mẫu, Từ Thạch để Bình Can Tiềm Dương, đồng thời trị ù tai. Vì bệnh nhân có nóng người nhưng lại khó chịu dạ dày khi uống đồ lạnh, nên đã mô phỏng Đan Chi Tiêu Dao Tán, thay Chi Tử bằng Tri Mẫu để Tư Âm Thanh Nhiệt, phối hợp Xuyên Luyện Tử để tăng cường Sơ Can Tiết Nhiệt. Đến lần tái khám thứ hai, bệnh nhân đại tiện khô, môi khô nứt nẻ, nên gia Lô Căn để Thanh Vị Sinh Tân, và Trần Bì để Lý Khí Kiện Tỳ. Lần tái khám thứ ba, bệnh nhân biểu hiện tim đập nhanh, nóng bừng, nhằm giải quyết Âm hư nội nhiệt ở Tâm Vị, Bác sĩ Giả thường dùng Bách Hợp. Bách Hợp vị ngọt, tính hàn, có thể dưỡng Âm của Tâm Vị, đồng thời có tác dụng Thanh Tâm An Thần. Lần tái khám thứ tư, đối với các triệu chứng tim đập nhanh, đầu lưỡi đỏ, nửa thân trên nóng nặng, nhưng hai chân dưới lạnh, bàn chân lạnh, đã mô phỏng ý nghĩa của Giao Thái Hoàn, gia Hoàng Liên, Nhục Quế để Thanh Tâm Hỏa, Ôn Thận Dương, nhằm mục đích Giao Thông Tâm Thận, Thủy Hỏa Ký Tế, điều hòa mâu thuẫn giữa hư dương thượng phù, âm hư nội nhiệt và Thận Dương bất túc. Quá trình điều trị tập trung vào Can Uất Tỳ Hư làm cương lĩnh, đồng thời cân nhắc động thái điều chỉnh hư thực, lấy Sơ Can Kiện Tỳ làm gốc, Tư Âm Tiềm Dương làm ngọn, Giao Thông Tâm Thận làm trợ, dần dần giảm liều lượng Zopiclone và đã đạt được hiệu quả lý tưởng.
Ca Bệnh 3: Chứng Uất (Trầm Uất)
Bệnh nhân: Bà Khúc, nữ, 32 tuổi, lần đầu khám vào ngày 20 tháng 2 năm 2025. Triệu chứng chính: Hoảng sợ, lo lắng hơn 1 năm. 1 năm trước do đánh nhau mà bị hoảng sợ, Tây y chẩn đoán là rối loạn lo âu trầm cảm, rối loạn phân ly chuyển đổi. Đang uống Trazodone hydrochloride 2 viên, Alprazolam 1 viên. Hiện tại: Tâm trạng chán nản, bứt rứt dễ cáu gắt, ăn uống được, thần bì lực kém. Ngủ kém, thỉnh thoảng gặp ác mộng, thỉnh thoảng đau đầu nặng trĩu. Hay quên, họng khô rát. Thỉnh thoảng đau đùi, đau lưng. Đại tiểu tiện bình thường. Kinh nguyệt bình thường. Lưỡi bệu đầu đỏ, mạch huyền tế.
Chẩn đoán: Uất Chứng (Can Uất Huyết Hư).
Đơn thuốc ban đầu: Đương Quy 12g, Bạch Thược 20g, Sao Bạch Truật 20g, Phục Thần 20g, Hương Phụ 10g, Sài Hồ 10g, Sinh Mẫu Lệ (sắc trước) 30g, Toan Táo Nhân 20g, Hợp Hoan Bì 20g, Nguyên Hồ 15g, Uất Kim 15g, Sinh Mạch Nha 30g, Lô Căn 30g, Kim Ngân Hoa 10g. 7 thang, sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Tái khám ngày 13 tháng 3: Mệt mỏi đỡ rõ rệt, tự cảm thấy đau không cố định vị trí từng đợt, nhưng sau khi uống thuốc mức độ đau giảm. Ngủ kém, thỉnh thoảng gặp ác mộng, dễ tỉnh giấc, 2-3 giờ tỉnh một lần, mỗi đêm ngủ 7 giờ. Ăn ngon, tự kể uống thuốc Tây y một tháng tăng 15 cân. Táo bón, 2-3 ngày đi một lần, tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, mạch tế huyền. Giữ nguyên đơn trên, giảm Kim Ngân Hoa, gia Sao Chỉ Thực 15g, Sao Lai Phục Tử 18g, Sao Ý Dĩ Nhân 45g. 14 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 27 tháng 3: Thỉnh thoảng gặp ác mộng, dễ tỉnh giấc đỡ rõ rệt, gần đây thỉnh thoảng chỉ tỉnh một lần. Đau nhức đỡ hơn. Ăn uống được, dần dần tăng cân. Đại tiện 3-4 ngày đi một lần, lượng ít, khô, tiểu tiện bình thường. Lưỡi bệu, mạch tế. Giữ nguyên đơn trên, giảm Toan Táo Nhân, gia Bá Tử Nhân 15g, Đại Hoàng (cho sau) 8g. 14 thang, sắc uống như cũ.
Tái khám ngày 24 tháng 4: Gần đây hết gặp ác mộng, dễ tỉnh giấc đỡ rõ rệt, sau khi uống thuốc chỉ tỉnh 1 lần, ngủ được, sau khi căng thẳng vẫn toàn thân khó chịu, miệng khô. Đại tiện thành khuôn, 1-2 ngày đi một lần, tiểu tiện màu vàng. Lưỡi bệu, mạch huyền. Giữ nguyên đơn trên, giảm Đại Hoàng. 14 thang, sắc uống như cũ.
Phân tích ca bệnh: Bệnh nhân mắc bệnh do bị kinh sợ, dẫn đến Can khí nghịch loạn, khí cơ không thông sướng, nên xuất hiện các triệu chứng như tâm trạng chán nản, bứt rứt dễ cáu gắt. Can Uất lâu ngày, hóa hỏa, làm hao tổn Âm Huyết, hình thành Can Uất Huyết Hư, biểu hiện qua họng khô, đầu lưỡi đỏ. Vì Can tàng Huyết, Huyết xá Hồn (Huyết là nơi trú ngụ của Hồn), Can Huyết khuy hư, Hồn không giữ được nơi ở, nên xuất hiện nhiều ác mộng. Lưỡi bệu, có vết hằn răng, thần bì lực kém cho thấy bệnh nhân có dấu hiệu Tỳ Hư. Ca bệnh này đáp ứng ba yếu điểm Can Uất, Tỳ Hư, Huyết Hư, nên đã dùng Tiêu Dao Tán gia giảm để Dưỡng Huyết Kiện Tỳ, Sơ Can Giải Uất.
Bệnh nhân Uất Chứng thường kèm theo triệu chứng mất ngủ, do đó phối hợp Sinh Mẫu Lệ, Toan Táo Nhân, Hợp Hoan Bì để Trọng Trấn An Thần, giúp ngủ ngon. Thêm Lô Căn, Kim Ngân Hoa để Thanh Nhiệt Sinh Tân, giảm họng khô. Đến lần tái khám thứ hai, bệnh nhân đại tiện không thông và khô, dùng Sao Chỉ Thực, Sao Lai Phục Tử để Thông Sướng Phủ Khí. Bệnh nhân tăng cân rõ rệt. Từ góc độ Tây y, điều này là do việc sử dụng các thuốc tâm thần như Alprazolam, Trazodone hydrochloride ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến thay đổi nồng độ hormone trong cơ thể, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa. Tuy nhiên, từ góc độ Đông y, chủ yếu là do Tỳ Hư Thấp Trở, cộng thêm phủ khí không thông sướng ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất. Do đó, trên cơ sở thông phủ, thêm Sao Ý Dĩ Nhân để Táo Thấp Kiện Tỳ, bảo vệ Tỳ Vị. Sau lần tái khám thứ tư, các triệu chứng của bệnh nhân cải thiện đáng kể, giấc ngủ tốt hơn, ác mộng biến mất. Việc điều trị bám sát ba yếu điểm Can Uất, Tỳ Hư, Huyết Hư, linh hoạt gia giảm Tiêu Dao Tán, điều chỉnh động thái tùy theo triệu chứng, đã giúp bệnh nhân giảm bớt những nỗi khổ do bệnh gây ra. (Lý Châu Hoài – Phòng khám Đông y Tước Cảnh Khang Đường, Bình Dao, Tấn Trung, Sơn Tây)
(Lưu ý: Các bài thuốc và phương pháp điều trị được đề cập trong bài viết này cần được sử dụng dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc có chuyên môn.)







