Khám Phá Viêm Tủy Thị Thần Kinh: Góc Nhìn Đông Y và Liệu Pháp Đột Phá
Viêm tủy thị thần kinh (Neuromyelitis Optica – NMO), một bệnh lý tự miễn phức tạp, gây ra những tổn thương viêm và hủy myelin nghiêm trọng tại hệ thần kinh trung ương, chủ yếu ảnh hưởng đến dây thần kinh thị giác và tủy sống. Hiện nay, y học hiện đại vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Liệu pháp xung kích corticosteroid, dù là lựa chọn hàng đầu, thường đi kèm với các tác dụng phụ đáng lo ngại như xuất huyết tiêu hóa, rối loạn điện giải, tăng huyết áp, đường huyết và mỡ máu. Trong bối cảnh đó, châm cứu, một phương pháp trị liệu không dùng thuốc, đã và đang nhận được sự quan tâm rộng rãi nhờ vào các ưu điểm vượt trội: đơn giản, tiện lợi, hiệu quả và chi phí hợp lý.
Một trong những thành tựu nổi bật của châm cứu hiện đại là liệu pháp “Tỉnh Não Khai Khiếu” (醒脑开窍), do Viện sĩ, Quốc Y Đại Sư Thạch Học Mẫn (石学敏) nghiên cứu và phát triển. Nền tảng của liệu pháp này dựa trên bệnh cơ “khiếu bế thần nặc, thần bất đạo khí” (窍闭神匿、神不导气), nghĩa là các khiếu bị bế tắc khiến cho thần khí bị ẩn lấp, không thể chủ đạo và dẫn dắt khí huyết vận hành. Đây là một phương pháp châm cứu chuyên sâu nhằm điều thần, trị thần, tỉnh thần và dưỡng thần, cho thấy ưu thế độc đáo trong việc điều trị các bệnh lý liên quan đến hệ thần kinh trung ương. Ca bệnh được phân tích dưới đây là một minh chứng tiêu biểu cho hiệu quả của liệu pháp Tỉnh Não Khai Khiếu, khi được áp dụng một cách toàn diện kết hợp với phương dược y học cổ truyền và các can thiệp của y học hiện đại, nhằm mang lại kết quả điều trị tối ưu.
Phân Tích Ca Bệnh Lâm Sàng Điển Hình
Thông Tin Bệnh Nhân và Quá Trình Diễn Biến Bệnh
Bệnh nhân Đinh Thị X, 49 tuổi, người Thiên Tân, đến khám vào ngày 20 tháng 10 năm 2023. Thời điểm phát bệnh rơi vào tiết khí Hàn Lộ. Bệnh nhân nhập viện với lý do chính: yếu hai chi dưới kéo dài hơn nửa tháng.
Bệnh sử chi tiết:
Vào ngày 1 tháng 10, bệnh nhân đột ngột sốt không rõ nguyên nhân, nhiệt độ cao nhất là 38.1°C. Sau khi tự uống ibuprofen, nhiệt độ trở lại bình thường và không có triệu chứng khó chịu nào khác. Đêm ngày 2 tháng 10, bệnh nhân đột ngột đau vùng quanh rốn, tính chất cơn đau khó mô tả, đau dữ dội đến mức không ngủ được. Bệnh nhân đã đến một bệnh viện hạng A tại Thiên Tân để loại trừ viêm ruột thừa nhưng không được chẩn đoán và điều trị cụ thể. Sau đó, bệnh nhân bắt đầu có triệu chứng buồn nôn và nôn sau khi ăn, chất nôn là thức ăn trong dạ dày, triệu chứng này tự thuyên giảm mà không cần can thiệp. Ngày hôm sau, bệnh nhân có thể ăn uống lại một ít và đồng thời xuất hiện đau khớp gối trái.
Ngày 5 tháng 10, bệnh nhân bất ngờ ngất xỉu, bị chấn thương nhẹ ở đầu. Rạng sáng ngày 6 tháng 10, bệnh nhân bắt đầu cảm thấy yếu và tê bì hai chi dưới. Tình trạng yếu hai chi dưới ngày càng nặng, khiến bệnh nhân không thể đứng vững và đi lại, đồng thời gặp khó khăn trong việc đại tiểu tiện. Lúc này, ý thức bệnh nhân tỉnh táo, phát âm rõ ràng, định hướng tốt về thời gian, không gian và con người, không có các triệu chứng đau mắt, giảm thị lực hay khuyết thị trường. Bệnh nhân được đưa vào một bệnh viện hạng A khác tại Thiên Tân để điều trị nội trú. Kết quả chụp MRI cột sống cổ, ngực và thắt lưng cho thấy có tình trạng viêm tủy cấp tính từ C6-L1. Xét nghiệm dịch não tủy qua chọc dò tủy sống cho thấy kháng thể AQP4 là 1:320. Bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Viêm tủy thị thần kinh.
Sau khi được điều trị bằng các phương pháp của y học hiện đại như Neurotropin để dinh dưỡng thần kinh, Đăng Trản Hoa Tố để cải thiện tuần hoàn não, liệu pháp xung kích hormone, bổ sung kali, canxi, thuốc ức chế axit để bảo vệ dạ dày, và enoxaparin để chống đông, tình trạng bệnh đã ổn định. Để tìm kiếm phương pháp điều trị sâu hơn, bệnh nhân đã đến phòng khám của chúng tôi.
Thăm Khám và Chẩn Đoán Toàn Diện
Triệu chứng hiện tại (Khắc hạ chứng):
- Thần trí tỉnh táo, tinh thần tốt, phát âm rõ ràng.
- Định hướng tốt về thời gian, không gian và con người.
- Rối loạn vận động hai chi dưới.
- Không sốt, không đau mắt, không giảm thị lực, không khuyết thị trường.
- Ăn uống tốt, ngủ ngon, tiểu tiện bình thường, đại tiện mỗi ngày 1 lần, phân thành khuôn.
- Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng dày và nhớt. Mạch Tế Sác (mạch nhỏ và nhanh).
Khám hệ thần kinh phát hiện các dấu hiệu dương tính:
- Cơ lực hai chi trên: bậc 5/5.
- Cơ lực hai chi dưới: bậc 3+/5.
- Trương lực cơ bình thường.
- Dấu hiệu Babinski hai bên dương tính (+).
Kết quả cận lâm sàng:
- MRI sọ não (ngày 9/10): Tín hiệu bất thường ở thể chai, nghi ngờ hội chứng tổn thương thể chai có thể hồi phục; ổ nhũn não cạnh sừng trước não thất bên trái; chất trắng thưa thớt mức độ nhẹ; thoát vị xuống dưới bể trên yên; viêm mạn tính xoang trán, xoang sàng và xoang hàm hai bên. Dịch não tủy: AQP4 dương tính (1:320).
- MRI cột sống cổ (ngày 21/10):
- Tăng sinh xương và duỗi thẳng đường cong sinh lý cột sống cổ;
- Nghi ngờ viêm tấm cùng cục bộ ở một số rìa thân đốt sống cổ;
- Thoái hóa đĩa đệm cột sống cổ, lồi đĩa đệm sau C5/6, C6/7;
- Hẹp ống sống thứ phát tương ứng;
- Tình trạng tủy ngực bất thường cần được kiểm tra chi tiết bằng MRI cột sống ngực.
- MRI cột sống ngực (ngày 31/10): Đường cong sinh lý cột sống ngực bình thường, sắp xếp thẳng hàng; một số rìa thân đốt sống hơi nhọn; cường độ tín hiệu một số đĩa đệm ngực giảm trên T2WI, không có dấu hiệu phồng, lồi đĩa đệm rõ rệt; ống sống ngực không hẹp rõ. Tín hiệu tủy sống đoạn ngực không đồng nhất, có các mảng và dải tín hiệu dài trên T2. Tăng sinh xương nhẹ và thoái hóa một phần đĩa đệm ngực; tín hiệu tủy sống đoạn ngực bất thường.
Chẩn Đoán Cuối Cùng
Chẩn đoán theo Y học hiện đại:
- Bệnh phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD).
- Thoái hóa đốt sống cổ.
- Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ và ngực.
- Hẹp ống sống cổ.
Biện chứng luận trị theo Y học cổ truyền:
- Bệnh danh: Nuy chứng (痿证).
- Thể bệnh: Thấp nhiệt tẩm dâm (湿热浸淫证).
Phác Đồ Điều Trị Kết Hợp Đông – Tây Y Toàn Diện
Phương Dược: Bài Thuốc Cổ Phương Tứ Diệu Tán Gia Giảm
Pháp trị: Thanh nhiệt khư thấp, hoạt huyết thông lạc.
Phương thuốc: Tứ Diệu Tán (四妙散) gia giảm.
Thành phần: Thương truật 12g, Sao Bạch truật 15g, Hoàng bá 6g, Ngưu tất 10g, Ý dĩ nhân 12g, Phục linh 15g, Chích Cam thảo 10g, Pháp Bán hạ 9g, Xuyên khung 12g, Sao Mạch nha 15g, Trần bì 15g, Chích Hoàng kỳ 15g, Thân cân thảo 12g, Kê huyết đằng 10g.
Liều dùng: 7 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc uống, chia làm 2 lần uống ấm vào buổi sáng và buổi tối.
Phân tích phương thuốc (Phương nghĩa): Bài thuốc này lấy Tứ Diệu Tán làm nền tảng để gia giảm, với công năng chính là thanh nhiệt và trừ thấp. Trong đó:
- Quân dược: Thương truật, Sao Bạch truật, Hoàng bá, Ngưu tất, Ý dĩ nhân, Phục linh tạo thành nhóm chủ lực có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, đưa thấp tà ra ngoài qua đường tiểu tiện.
- Thần dược: Bán hạ giúp hóa đàm trừ thấp, tăng cường khả năng loại bỏ thấp trọc. Xuyên khung có tác dụng hành khí hoạt huyết, giúp khí huyết lưu thông, phá tan sự ứ trệ tại các kinh lạc.
- Tá dược: Trần bì lý khí kiện tỳ, táo thấp hóa đàm, giúp Tỳ Vị vận hóa tốt hơn, ngăn ngừa thấp tà tái sinh. Chích Hoàng kỳ bổ khí, hỗ trợ chính khí của cơ thể để đẩy tà khí ra ngoài. Thân cân thảo và Kê huyết đằng có tác dụng thư cân hoạt lạc, giảm co cứng và cải thiện vận động của tứ chi.
- Sứ dược: Chích Cam thảo điều hòa các vị thuốc, giảm bớt tính mạnh của các vị thuốc khác và dẫn thuốc vào các kinh.
Châm Cứu: Liệu Pháp Tỉnh Não Khai Khiếu
Pháp trị: Tỉnh thần khai khiếu, sơ thông kinh lạc, thanh nhiệt khư thấp.
Tuyển huyệt:
- Huyệt chủ đạo (Tỉnh Não Khai Khiếu): Nội quan, Nhân trung, Tam âm giao, Cực tuyền, Xích trạch, Ủy trung.
- Huyệt phối hợp: Phong trì, Hoàn cốt, Thiên trụ, Giáp tích cổ ngực, Âm lăng tuyền, Túc tam lý, Nội đình.
Thủ pháp châm cứu:
- Nội quan: Châm tả bằng thủ pháp niệp chuyển (xoay kim).
- Nhân trung: Châm tả bằng thủ pháp tước trác (mổ như chim), kích thích đến khi mắt bệnh nhân ươn ướt là đạt yêu cầu.
- Tam âm giao: Châm bổ bằng thủ pháp đề sáp (vê và lên xuống).
- Cực tuyền: Châm tả bằng thủ pháp đề sáp, kích thích đến khi chi trên co giật 3 lần là đủ.
- Xích trạch: Châm tả bằng thủ pháp niệp chuyển.
- Ủy trung: Châm tả bằng thủ pháp đề sáp, kích thích đến khi chi dưới co giật 3 lần là đủ.
- Phong trì, Hoàn cốt, Thiên trụ: Châm bổ bằng thủ pháp niệp chuyển.
- Giáp tích cổ ngực: Châm bình bổ bình tả (vừa bổ vừa tả).
- Âm lăng tuyền: Châm tả bằng thủ pháp đề sáp.
- Túc tam lý: Châm bổ bằng thủ pháp niệp chuyển.
- Nội đình: Châm tả bằng thủ pháp niệp chuyển.
Tất cả các huyệt được hành châm trong 1 phút và lưu kim 30 phút.
Phân tích tư duy chọn huyệt: Vị trí bệnh của bệnh nhân nằm ở hệ thần kinh trung ương. Theo luận giải trong “Hoàng Đế Nội Kinh”: “Tâm là chủ, chủ sáng thì ở dưới yên… chủ không sáng thì mười hai cơ quan đều nguy, khiến đường lối bị đóng tắc không thông”. Từ đó, có thể xác định bệnh cơ của Nuy chứng trong trường hợp này là “khiếu bế thần nặc, thần bất đạo khí, tủy tổn đạo trở”. Kết hợp với đặc điểm lưỡi và mạch, bệnh thuộc thể Thấp nhiệt tẩm dâm. Pháp trị được xác định là tỉnh não khai khiếu, sơ thông kinh lạc, thanh nhiệt khư thấp. Các huyệt Nội quan, Nhân trung, Tam âm giao, Cực tuyền, Xích trạch, Ủy trung là nhóm huyệt chính của liệu pháp Tỉnh Não Khai Khiếu. Phong trì, Hoàn cốt, Thiên trụ có tác dụng tăng cường tuần hoàn máu hệ thần kinh trung ương, thúc đẩy phục hồi chức năng. Huyệt Giáp tích cổ và ngực tác động trực tiếp đến vị trí tổn thương, thúc đẩy phục hồi chức năng tủy sống. Âm lăng tuyền, Túc tam lý và Nội đình phối hợp để thanh nhiệt trừ thấp.
Phác Đồ Điều Trị Theo Y Học Hiện Đại
Bệnh nhân được duy trì phác đồ của bệnh viện tuyến trên, bao gồm:
- Viên nén Prednisone acetate 5mg: 12 viên/ngày, uống 1 lần. Mỗi tuần giảm 1 viên.
- Viên nén Rabeprazole sodium tan trong ruột 20mg: 1 viên/ngày, uống 1 lần.
- Viên nén Acarbose 100mg: 1 viên/ngày, uống 1 lần.
- Viên nén Canxi cacbonat D3 0.6g: 1 viên/ngày, uống 1 lần.
- Viên nén Kali clorid giải phóng chậm 1g: 1 viên/lần, 3 lần/ngày.
- Viên nang Calcitriol 0.25μg: 1 viên/ngày, uống 1 lần.
Diễn Biến, Kết Quả Điều Trị và Theo Dõi
Tái khám lần 2 (ngày 27/10):
Liều Prednisone acetate giảm còn 11 viên/ngày. Bắt đầu từ ngày thứ 4 của đợt điều trị, trong phác đồ châm cứu, huyệt Nhân trung được thay thế bằng huyệt Ấn đường và Thượng tinh thấu Bách hội. Các phương pháp điều trị khác vẫn giữ nguyên. Sau 7 ngày điều trị, bệnh nhân tỉnh táo, tinh thần tốt, phát âm rõ ràng, định hướng tốt. Tình trạng rối loạn vận động hai chi dưới đã cải thiện rõ rệt, bệnh nhân có thể đi lại khoảng 20 phút khi có người dìu. Không sốt, ăn uống tốt, ngủ ngon, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Huyền. Khám thần kinh: Cơ lực hai chi trên 5/5, hai chi dưới 4-/5, trương lực cơ bình thường, Babinski hai bên (+).
Tái khám lần 3 (ngày 2/11):
Liều Prednisone acetate giảm còn 10 viên/ngày. Các phương pháp điều trị khác giữ nguyên như lần tái khám trước. Sau 14 ngày điều trị, bệnh nhân tỉnh táo, tinh thần tốt, phát âm rõ ràng, định hướng tốt. Tình trạng vận động hai chi dưới tiếp tục cải thiện, có thể đi lại khoảng 1 giờ khi có người dìu. Không sốt, ăn uống tốt, ngủ ngon, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Huyền. Khám thần kinh: Cơ lực hai chi trên 5/5, hai chi dưới 4/5, trương lực cơ bình thường, Babinski hai bên (+).
Theo dõi sau điều trị:
Sau 2 tháng, bệnh nhân có thể đi lại bình thường, sinh hoạt trở lại như trước và không còn bất kỳ triệu chứng khó chịu nào. Khám thần kinh: Cơ lực hai chi trên 5/5, hai chi dưới 5/5, trương lực cơ bình thường, Babinski hai bên (±), các chỉ số khác âm tính (-).
Bàn Luận Chuyên Sâu (An Án) Từ Góc Nhìn Của Chuyên Gia
Luận Giải Về Bệnh Danh và Bệnh Cơ Của Viêm Tủy Thị Thần Kinh Trong Đông Y
Viêm tủy thị thần kinh, một bệnh tự miễn đặc trưng bởi tỷ lệ tái phát và tàn tật cao, thường do nhiễm virus gây ra phản ứng miễn dịch bất thường, dẫn đến tình trạng viêm và hủy myelin trong hệ thần kinh. Biểu hiện lâm sàng đa dạng, bao gồm suy giảm thị lực, yếu cơ, khó giữ thăng bằng và cảm giác bất thường. Y học cổ truyền xếp bệnh này vào phạm trù “Nuy chứng” (痿证). Bệnh vị nằm ở Tủy và Mục hệ (hệ thống liên quan đến mắt). Bệnh cơ cốt lõi là do Can, Thận, Tỳ Vị hư tổn, dẫn đến “thần thất kỳ dụng” (thần minh mất đi công năng), “thần bất đạo khí” (thần không dẫn dắt được khí), kinh lạc không thông, gây ra “tủy tổn mục ám” (tủy bị tổn thương, mắt bị mờ tối).
- Thận tàng tinh, sinh tủy, não là bể của tủy. Thận khí bất túc sẽ dẫn đến tủy hư, mắt mờ.
- Can chủ tàng huyết, khai khiếu ra mắt. Can huyết bất túc thì mục hệ không được nuôi dưỡng, gây ra mắt mờ, hoa mắt. Can chủ về gân, can huyết hư thì tứ chi co quắp hoặc yếu mềm.
- Tỳ Vị là nguồn hậu thiên. Tỳ hư yếu thì cơ bắp tê bì không linh hoạt, phát thành “nhục nuy” (teo cơ). Vị là biển của ngũ tạng lục phủ, của thủy cốc. Kinh Dương Minh suy hư thì tông cân sẽ thả lỏng, chân bị liệt không dùng được. Do đó, cổ nhân đã đề xuất luận điểm “Trị nuy độc thủ Dương Minh” (chữa chứng nuy chỉ chuyên lấy kinh Dương Minh).
Dựa trên nền tảng này, Viện sĩ Thạch Học Mẫn đã đưa ra một luận điểm mới, cho rằng Viêm tủy thị thần kinh là do “thần khí” bị tổn thương. Khi thần bị tổn thương thì thần không thể dẫn dắt khí, thần minh mất đi công năng thống lĩnh tứ chi, cơ bắp và xương cốt, từ đó phát sinh Nuy chứng. Do đó, tổng bệnh cơ của bệnh này là do Can, Thận, Tỳ Vị hư tổn dẫn đến thần cơ mất tác dụng, thần không đạo khí, tủy tổn mục ám.
Nguyên Lý “Tỉnh Thần Khai Khiếu Trị Nuy” – Nền Tảng Của Sự Thành Công
Hiện tại, y học hiện đại chưa có phương pháp chữa khỏi hoàn toàn Viêm tủy thị thần kinh. Việc phát hiện, chẩn đoán và điều trị sớm là cực kỳ quan trọng. Liệu pháp xung kích corticosteroid liều cao trong giai đoạn cấp tính là lựa chọn hàng đầu. Đối với những trường hợp không đáp ứng, có thể áp dụng phương pháp thay huyết tương hoặc liệu pháp globulin miễn dịch. Giai đoạn ổn định có thể dùng thuốc ức chế miễn dịch hoặc kháng thể đơn dòng tế bào B. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc này kéo dài không chỉ kém hiệu quả mà còn gây ra những tổn thương không thể hồi phục do tác dụng phụ. Do đó, Y học cổ truyền, đặc biệt là châm cứu, ngày càng được ưa chuộng như một liệu pháp bổ sung và thay thế hiệu quả.
Dưới sự chỉ đạo của lý luận Tỉnh Não Khai Khiếu, Viện sĩ Thạch Học Mẫn đã sáng tạo ra pháp trị “Tỉnh thần khai khiếu trị nuy”. Liệu pháp châm cứu Tỉnh Não Khai Khiếu gia giảm được sử dụng để điều thần đạo khí, thông kinh hoạt lạc. Phương pháp này lấy Nội quan, Nhân trung, Tam âm giao làm huyệt chính. Châm Nội quan trước để điều tâm huyết, tâm thần; tiếp đến châm Nhân trung để tỉnh thần, điều thần, giúp thần khí ứng nghiệm; sau đó châm Tam âm giao để dẫn dương vào âm, điều chỉnh kinh khí của ba kinh Can, Thận, Tỳ, từ đó thông kinh hoạt lạc. Các huyệt Cực tuyền, Xích trạch, Ủy trung được kích thích mạnh để đạt hiệu quả thư cân hoạt lạc tốt nhất. Nhóm huyệt Phong trì, Hoàn cốt, Thiên trụ cải thiện tuần hoàn máu não. Huyệt Giáp tích điều hòa khí huyết cục bộ tại tủy sống. Âm lăng tuyền, Túc tam lý, Nội đình phối hợp để thanh nhiệt trừ thấp.
Một điểm đáng chú ý là sự thay đổi giữa phác đồ “Đại Tỉnh Não” và “Tiểu Tỉnh Não”. Đối với bệnh nhân chưa từng được điều trị bằng liệu pháp Tỉnh Não Khai Khiếu, ba ngày đầu tiên sẽ áp dụng phác đồ Đại Tỉnh Não (gồm các huyệt chính là Nhân trung, Nội quan, Tam âm giao). Sau ba ngày, sẽ chuyển sang phác đồ Tiểu Tỉnh Não (thay Nhân Trung bằng Ấn đường, Thượng tinh thấu Bách hội). Nguyên nhân là do Đại Tỉnh Não có tác dụng tỉnh thần khai khiếu, thông điều nguyên thần rất mạnh, nếu sử dụng lâu dài bệnh nhân có thể không chịu đựng được. Trong khi đó, Tiểu Tỉnh Não có tác dụng tỉnh não, điều thần với cường độ kích thích nhỏ hơn, bệnh nhân dễ dung nạp hơn, thường được dùng cho các bệnh nhân đã ổn định như di chứng đột quỵ, sa sút trí tuệ, mất ngủ, các chứng đau…
Phân Tích Hiệu Quả Của Việc Kết Hợp Đa Phương Pháp
Ca bệnh này đạt được hiệu quả rõ rệt sau 14 ngày điều trị là nhờ vào sự kết hợp hài hòa và toàn diện. Ngay từ khi phát bệnh, sau khi có chẩn đoán xác định, liệu pháp xung kích hormone đã phát huy tác dụng kháng viêm, ức chế miễn dịch, ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Đồng thời, các loại thuốc bổ sung kali, canxi, bảo vệ dạ dày và chống đông đã được sử dụng một cách dự phòng để giảm thiểu tối đa tác dụng phụ của hormone. Dựa trên triệu chứng, thể trạng, lưỡi và mạch của bệnh nhân, y học cổ truyền chẩn đoán là Nuy chứng, thể Thấp nhiệt tẩm dâm, và sử dụng bài thuốc Tứ Diệu Tán gia giảm để thanh nhiệt trừ thấp, hoạt huyết thông lạc, điều chỉnh thể chất của bệnh nhân để trị tận gốc. Việc can thiệp bằng châm cứu ngay từ giai đoạn đầu, khi bệnh còn tương đối nhẹ, đã phát huy tối đa tác dụng tỉnh não khai khiếu, nuôi dưỡng tứ chi. Y học cổ truyền nhấn mạnh rằng, gốc rễ của việc trị bệnh nằm ở chỗ “điều thần”. Điều thần lý khí là mấu chốt để đạt được hiệu quả. Do đó, phác đồ điều trị kết hợp Đông – Tây y lấy liệu pháp Tỉnh Não Khai Khiếu làm trọng tâm, thông qua việc điều thần hành khí, đã giúp khí cơ thông suốt, huyết mạch điều hòa, từ đó “thần hữu sở y, chi hữu sở dụng” (thần có nơi nương tựa, tay chân có thể sử dụng), các triệu chứng đều được hóa giải.
(Nguồn: Cao Oánh, Dương Kiến, Vương Hải Vinh – Bệnh viện trực thuộc số 1 Đại học Y học cổ truyền Thiên Tân)
(Lưu ý: Các phương thuốc và phương pháp điều trị được trình bày trong bài viết này cần được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc có chuyên môn.)







