Điều trị Liệt dây thần kinh vận nhãn bằng phương pháp “Duy cân tương giao, Cự châm pháp”

Võ Liên Trọng, Bác sĩ trưởng (Chủ nhiệm y sư), Giáo sư Bệnh viện số 1 trực thuộc Đại học Trung y dược Thiên Tân, chuyên gia nổi tiếng về bệnh não trong Trung y, Danh y Trung y thành phố Thiên Tân, Danh y lão thành Trung y toàn quốc đợt 3. Ông đã có hơn 50 năm kinh nghiệm trong công tác lâm sàng, giảng dạy và nghiên cứu châm cứu; tinh thông biện chứng điều trị các bệnh về não và nhiều chứng bệnh nan y phức tạp. Ông đã đúc kết các lý luận như “Sinh lý và bệnh lý của Thần”, “Cơ chế bệnh sinh của Trúng phong”, đạt đến trình độ uyên thâm. Giáo sư Võ đã công bố hơn 70 bài báo khoa học và là tác giả của hơn 20 cuốn sách chuyên khảo như 《Đại từ điển Châm cứu Song ngữ Anh – Hán》, 《Giáo sư Võ Liên Trọng thần châm diệu luận》, 《Châm cứu tân ngộ》, 《Trung Quốc châm cứu diệu luận kỹ pháp》… Người viết (tác giả bài này) vinh dự được theo học lâm sàng cùng Giáo sư Võ Liên Trọng, được ông tận tình chỉ dạy, nhận thấy ông có kinh nghiệm vô cùng độc đáo trong liệu pháp châm cứu điều trị liệt dây thần kinh vận nhãn, thu được lợi ích to lớn. Nay xin giới thiệu lại kinh nghiệm của ông để chia sẻ cùng các đồng nghiệp.

Liệt dây thần kinh vận nhãn (dây thần kinh sọ số III) có nguyên nhân phát bệnh phức tạp và đa dạng, phần lớn do nhiễm virus, chấn thương sọ não, chấn thương mắt, đái tháo đường, nhồi máu não… gây tổn thương hoặc chèn ép dây thần kinh vận nhãn. Biểu hiện chính là sụp mi trên cùng bên, rối loạn vận động nhãn cầu, nhìn đôi (song thị), giãn đồng tử bên bệnh, phản xạ ánh sáng của đồng tử suy giảm hoặc mất hẳn. Căn bệnh này có tỷ lệ mắc tương đối thấp. Hiện tại, các triệu chứng lâm sàng chưa có chiến lược kiểm tra, chẩn đoán rõ ràng, việc điều trị còn thiếu tính đặc hiệu, do đó rất dễ chẩn đoán nhầm, bỏ sót, làm lỡ thời cơ điều trị.

Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh liệu pháp châm cứu mang lại hiệu quả xác thực trong điều trị liệt dây thần kinh vận nhãn, ít tác dụng phụ, độ an toàn cao và hiệu quả lâu dài tốt. Giáo sư Võ Liên Trọng áp dụng phương pháp châm cứu để điều trị căn bệnh này. Dựa trên bề dày kinh nghiệm lâm sàng, ông đã đúc kết được một hệ thống tư tưởng học thuật độc đáo bao gồm: tổng cương biện chứng, đổi mới lý luận, thủ pháp châm kim, cảm giác đắc khí tại huyệt…, mang lại giá trị ứng dụng lâm sàng cao.

1. Lấy Biện chứng Biểu Lý, Kinh lạc làm Tổng cương

Dưới sự chỉ đạo của lý luận quan niệm chỉnh thể trong Trung y học, kết hợp với thực tiễn lâm sàng, Giáo sư Võ phân tích nguyên nhân, sự phát sinh phát triển, phương pháp điều trị và tiên lượng của bệnh này từ góc độ biện chứng Biểu – Lý và Kinh lạc.

  • Nguyên nhân gây bệnh nằm ở sự khác biệt giữa Biểu (Bên ngoài) và Lý (Bên trong). Phong tà xâm nhập vào lạc mạch được quy về Biểu, đúng như sách 《Cảnh Nhạc toàn thư》 viết: “Biểu chứng giả, tà khí chi tự ngoại nhi nhập giả dã” (Chứng ở biểu là do tà khí từ bên ngoài xâm nhập vào). Phong là nguyên nhân gây ra trăm bệnh (Phong vi bách bệnh chi trưởng), tính chất hay di chuyển và biến hóa nhanh, kẹp theo hàn, nhiệt, thấp, táo lưu trú ở kinh lạc. Phép châm cứu chủ yếu lấy huyệt Phong trì cả hai bên; huyệt Phong trì áp dụng phương pháp châm theo đường kinh (tuần kinh thích pháp), phối hợp Hợp cốc, Dương khê, Ngoại quan để khu phong tán tà.
  • Tạng phủ khí huyết bất túc (thiếu hụt) được quy về Lý. Điều này khiến cho khí huyết vận hành bị cản trở, kinh lạc mất đi sự nuôi dưỡng, tà khí sinh ra từ bên trong. Phép châm cứu chủ yếu lấy Phong trì, Hoàn cốt, Thiên trụ; huyệt Phong trì áp dụng phương pháp châm ngang (hoành thích pháp), phối hợp Khúc trì, Trung chử, Dương khê để phù chính khư tà, dưỡng huyết ích tủy.

Giáo sư Võ cho rằng, giai đoạn phát bệnh từ 1-2 tuần đầu tiên được gọi là giai đoạn cấp tính trong y học hiện đại, điều này hoàn toàn thống nhất với tư tưởng “Truyền kinh” (bệnh truyền qua các kinh mạch) trong Trung y. Sách 《Thương hàn luận》 đã luận giải về quy luật truyền biến chung của các bệnh do ngoại cảm. Khi ngoại tà xâm nhập cơ thể con người, đầu tiên sẽ lưu lại ở kinh Thái dương, sau đó lần lượt qua Dương minh, Thiếu dương… đến Quyết âm. “Phù tà chi khách vu hình dã, tất tiên xá vu bì mao, lưu nhi bất khứ, nhập xá vu lạc mạch” (Tà khí xâm phạm vào hình thể, ắt trước tiên lưu lại ở da lông, ở lại không đi, sẽ đi sâu vào lạc mạch).

  • Ở giai đoạn đầu phát bệnh, ngoại tà nổi lơ lửng ở lạc mạch, vị trí bệnh nông (ở biểu). Giáo sư Võ chủ trương trong giai đoạn này, châm cứu chủ yếu dùng phương pháp Mao thích (Châm nông như lông), ví dụ như phương pháp “Phàn thích” ở bờ mi (châm khều), châm nông quanh mắt; nên chọn ít huyệt và không nên dùng các thủ pháp kích thích mạnh.
  • Vào giai đoạn giữa và cuối, bệnh tà đã đi sâu vào kinh mạch, tà và chính giao tranh, chính khí thắng thì tà khí cũng chống trả quyết liệt. Giai đoạn này nên Thâm thích (Châm sâu), ví dụ huyệt Tình minh châm sâu 30-50 mm; đồng thời nên chọn nhiều huyệt. Dựa trên nguyên tắc lấy huyệt ở xa/gần, lấy huyệt theo triệu chứng, lấy huyệt theo đường kinh, một số huyệt cần áp dụng thủ pháp kích thích tương ứng. Ví dụ ở huyệt Phong trì, khi đâm kim dùng thủ pháp Nâng ấn Bổ pháp (Đề sáp bổ pháp) – đâm sâu mạnh, rút lên nhẹ nhàng (trọng sáp khinh đề); khi hành châm dùng thủ pháp Vê kim Bổ pháp (Niễn chuyển bổ pháp), nhằm kích phát kinh khí, phù trợ chính khí chống lại tà khí, tiên lượng bệnh sẽ tốt.

2. Lấy “Duy cân tương giao, Cự châm pháp” làm Đại pháp (Phương pháp chính)

“Duy cân tương giao” chỉ sự liên kết, đan chéo trái phải, trên dưới của mười hai kinh cân. Tức là kinh cân ở một bên đầu kết nối và bắt chéo với kinh cân của chi bên đối diện. Thuật ngữ “Duy cân tương giao” xuất hiện sớm nhất trong sách 《Nội Kinh》. 《Linh khu · Kinh cân》 viết: “Túc thiếu dương chi cân… chi giả, kết vu mục tí vi ngoại duy… duy cân cấp, tòng tả chi hữu, hữu mục bất khai, thượng quá hữu giác, tịnh kiểu mạch nhi hành, tả lạc vu hữu, cố thương tả giác, hữu túc bất dụng, mệnh viết duy cân tương giao” (Kinh cân của Túc thiếu dương… nhánh của nó, kết lại ở khóe mắt làm duy bên ngoài… duy cân co cấp, từ trái sang phải, mắt phải không mở được, đi lên qua sừng phải, đi cùng Kiểu mạch, trái nối với phải, nên tổn thương sừng bên trái, thì chân bên phải không dùng được, gọi là duy cân tương giao).

Lý luận “Duy cân tương giao” được thể hiện qua ứng dụng lâm sàng của “Cự châm pháp” và “Mậu châm pháp”, tức là bệnh bên trái lấy huyệt bên phải (Tả bệnh hữu thủ), bệnh bên phải lấy huyệt bên trái, bệnh phía trên lấy huyệt phía dưới, bệnh phía dưới lấy huyệt phía trên. Cự châm (Châm đối xứng) là một trong “Cửu châm” (Chín phương pháp châm). 《Linh khu · Quan châm》 viết: “Cự châm giả, tả thủ hữu, hữu thủ tả” (Cự châm là, bệnh trái lấy huyệt phải, bệnh phải lấy huyệt trái). Cự châm là phương pháp chọn huyệt châm cứu dựa trên sự liên thông âm dương khí huyết của kinh lạc, sự đối ứng trái phải và sự điều hòa qua lại trên dưới.

  • Huyệt Cự liêu là huyệt đại diện nơi tinh khí của kinh Túc dương minh Vị hưng vượng nhất, mà kinh Dương minh lại là kinh đa khí đa huyết. Châm huyệt Cự liêu có thể kích phát chính khí của cơ thể, điều hòa sự vận hành khí huyết.
  • Huyệt Hạm yến nằm ở điểm cao nhất của kinh Túc thiếu dương Đởm, là huyệt đại diện cho nguyên lý “duy cân tương giao” của kinh Đởm, có mối quan hệ tương ứng chéo với tứ chi, bao gồm cả tác dụng chi phối chéo, có thể điều tiết và trị liệu các chứng hậu ở bên đối diện.

Giáo sư Võ cho rằng, thông qua việc áp dụng Cự châm tại huyệt Hạm yến, Cự liêu có thể khắc phục sự thiên lệch (quá thịnh hoặc quá suy) của khí huyết hai bên trái phải, từ đó ức chế sự cấp bách, nâng đỡ sự hòa hoãn (ức cấp phù hoãn), cân bằng kinh khí, điều hòa khí cơ toàn thân. Khi châm cần chú ý trình tự trước sau: đầu tiên lấy huyệt Hạm yến, Cự liêu ở bên lành, nhằm sơ thông kinh mạch, điều hòa âm dương; sau đó lấy huyệt ở bên bệnh, nhằm khư tà phù chính. Đồng thời, đặc tính “duy cân tương giao” của huyệt Hạm yến rất tương đồng với Bó tháp bắt chéo (pyramidal decussation) của hệ thần kinh trong y học hiện đại. Việc Cự châm huyệt Hạm yến bên lành có thể điều hòa hiệu quả các dây thần kinh tương ứng và vỏ não, phản xạ kích thích dây thần kinh vận nhãn, gây hưng phấn cơ cục bộ bên bệnh.

3. Thủ pháp Châm kim và Bí quyết “Đắc khí”

3.1 Phương pháp “Phàn thích” ở bờ mi (Cục bộ kiểm duyên phàn thích pháp)

Phương pháp châm này áp dụng tại bờ mi, còn được gọi là phương pháp Duyên thích (Châm viền) hoặc Quải châm (Châm treo). Đặc điểm của nó là dùng nhiều kim châm nông, châm như lông tóc, kim đâm san sát nhau. Đây là phương pháp do Giáo sư Võ sáng tạo dựa trên Mao thích pháp (Châm lông tóc), tức là “Thích phù tý vu bì phu dã” (Châm trị chứng tý lơ lửng ở da). 《Tố Vấn · Thích yếu luận》 viết: “Bệnh hữu phù trầm, thích hữu thiển thâm, các chí kỳ lý, vô quá kỳ đạo” (Bệnh có nổi có chìm, châm có nông có sâu, đều theo lý lẽ của nó, không vượt quá đạo lý).

  • Thao tác: Bảo bệnh nhân nhắm mắt. Người thực hiện dùng tay trái làm căng bờ mi trên bên bệnh của bệnh nhân, tay phải cầm kim nhẹ nhàng điểm châm dọc theo rìa mi từ trái sang phải, tựa như “chuồn chuồn đạp nước”. Liều lượng kích thích, mức độ và tần suất tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Lặp lại thao tác 3 lần, không lưu kim. Thủ pháp phải nhẹ nhàng, lực châm đều tay, cẩn thận tránh đâm vào nhãn cầu của bệnh nhân.

Giáo sư Võ cho rằng, những bệnh nhân này do cảm nhiễm phong tà, tà khí lưu trú ở phần da (bì bộ) của kinh mạch, do đó dùng hào châm đâm nông ở da để sơ phong tán hàn, điều hòa vinh vệ khí huyết, chải chuốt tấu lý da. Phương pháp này “Ngụ phục vu bổ, Ngụ thiển vu bổ” (Lồng ghép sự phục hồi và sự châm nông trong phép bổ), vừa có thể dẫn tà khí ra ngoài, vừa làm an định những nơi chưa bị nhiễm tà, phục hồi chức năng nhắm mở của mi mắt.

Kết hợp với y học hiện đại, việc châm cứu quanh mắt và “phàn thích” bờ mi đã trực tiếp kích thích vào gân cơ, thoi cơ… của cơ vận động nhãn cầu, tăng cường sự ghép nối co cơ do hưng phấn thần kinh cơ (excitation-contraction coupling), thúc đẩy sự phục hồi chức năng thần kinh. Các nghiên cứu liên quan chỉ ra rằng, châm cứu quanh hốc mắt có thể thúc đẩy sự sản sinh Yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) hoặc giải phóng chất dẫn truyền thần kinh, cải thiện mối quan hệ giữa thần kinh và cơ, từ đó thúc đẩy sự phục hồi chức năng của dây thần kinh vận nhãn và hệ thống cơ mà nó chi phối, điều hòa nguồn cung cấp máu cho hốc mắt và quanh nhãn cầu, cải thiện hiệu quả các triệu chứng của liệt dây thần kinh vận nhãn.

3.2 Các phương pháp châm huyệt Phong trì

“Phong trì tứ thích” (4 cách châm huyệt Phong trì) là phương pháp thao tác châm kim do Giáo sư Võ đúc kết sau nhiều năm kinh nghiệm lâm sàng, bao gồm: Tuần kinh thích (Châm theo đường kinh), Thông kinh thích (Châm thông kinh), Thông quan pháp (Phương pháp thông khớp), và Hoành thích pháp (Châm ngang).

Trong điều trị liệt dây thần kinh vận nhãn, tùy theo từng giai đoạn phát triển của bệnh mà áp dụng phương pháp châm khác nhau.

  • Ở giai đoạn đầu phát bệnh, bệnh tà còn trôi nổi ở biểu, huyệt Phong trì áp dụng phương pháp châm thứ nhất (Tuần kinh thích): Mũi kim hướng về phía khóe mắt trong của nhãn cầu đối diện, châm xiên vào trong và lên trên, đâm kim sâu 13-25 mm, áp dụng thủ pháp Vê kim nâng ấn Tả pháp (Niễn chuyển đề sáp tả pháp), cho đến khi cảm giác châm lan tỏa lên đỉnh đầu. Phong trì là huyệt giao hội của kinh Đởm và Dương duy mạch, Dương duy mạch chủ về biểu chứng. 《Nạn Kinh · Nhị thập cửu nạn》 chép: “Dương duy vi bệnh khổ hàn nhiệt” (Dương duy mắc bệnh sẽ khổ sở vì sợ lạnh phát sốt), do đó châm Tả (tả pháp) có thể giải biểu thanh nhiệt. Mà phong lại là gốc của bách bệnh, do đó Phong trì không chỉ sơ tán được phong tà, mà còn có thể sơ tán các tà khí khác trong lục dâm. Bệnh này trị bằng cách khu phong tán hàn, sơ thông kinh lạc.
  • Ở giai đoạn giữa và cuối, bệnh tà đã đi sâu vào lý, huyệt Phong trì chuyển sang dùng phương pháp châm thứ tư (Hoành thích pháp): Châm thấu hướng sang huyệt Phong trì đối diện, đâm sâu 35-70 mm, áp dụng thủ pháp Nâng ấn vê kim Bổ pháp (Đề sáp niễn chuyển bổ pháp), nhằm phù trợ chính khí, điều hòa khí huyết, kiện não điều thần, cải thiện lượng máu cung cấp cho hệ động mạch cột sống – thân nền.

Vị trí của huyệt Phong trì rất đặc biệt, là nơi tọa lạc của các trung tâm sinh mệnh cơ bản như hô hấp, tuần hoàn. Châm cứu ở đây dễ xảy ra nguy hiểm, do đó phải thực hiện trên cơ sở nắm vững giải phẫu cục bộ. Không nên châm quá sâu để phòng ngừa tai biến.

3.3 Đặc sắc về Cảm giác châm (Đắc khí)

《Linh khu · Cửu châm thập nhị nguyên》 viết: “Thích chi yếu, khí chí nhi hữu hiệu” (Điểm cốt yếu của châm cứu là khí đến mới có hiệu quả). Quan điểm truyền thống cho rằng đắc khí là nền tảng để đạt được hiệu quả điều trị. Giáo sư Võ đã phân loại cảm giác đắc khí của bệnh nhân thành 10 loại: “Toan, Ma, Trọng, Trướng, Thống, Lương, Nhiệt, Thoán, Động, Trừu” (Mỏi, Tê, Nặng, Trướng, Đau, Lạnh, Nóng, Tê rần, Co giật, Giật thót).

Về mặt sinh lý học, “Mỏi” là cảm giác của cơ bắp, “Tê” là cảm giác của thần kinh, “Trướng” là cảm giác của màng xương, “Đau” là cảm giác của mạch máu. “Thoán, Động, Trừu” là những cảm giác châm khách quan, biểu hiện bằng sự chuyển động cơ học ở các vùng cục bộ, khớp hoặc chi của bệnh nhân, mang tính khách quan và có thể định lượng được, thể hiện đặc điểm lượng học của thủ pháp châm cứu hiện đại.

Giáo sư Võ trong quá trình điều trị châm cứu đặc biệt nhấn mạnh đến cảm giác đắc khí tại huyệt. Cùng một huyệt nhưng thủ pháp vào kim, hướng đâm, độ sâu, thủ pháp hành châm khác nhau sẽ tạo ra cảm giác và hiệu quả điều trị khác nhau.

  • Khi vào kim (tiến châm), cần chú ý: Khinh (dùng lực nhẹ nhàng, khéo léo), Xảo (lực khéo léo, tránh dùng lực thô cứng), Khoái (tốc độ vào kim nhanh), Đàn (ngón tay ấn xuống rồi nảy lên, tiến lùi tự do), Tá (mượn lực để kích phát kinh khí).
  • Khi vận kim (hành châm), cần chú ý tiêu chuẩn lượng học của thủ pháp châm cứu: đắc khí là dừng, thấy đau là dừng, và chú trọng cảm nhận của chính bệnh nhân, phát huy tối đa tác dụng của kim và huyệt.

Ví dụ:

  • Huyệt Dương bạch tam thấu: Lần lượt châm xiên ra ngoài lên trên, ra ngoài xuống dưới, vào trong xuống dưới. Cảm giác châm lan tỏa ra các hướng khác nhau, khiến da và cơ cục bộ có cảm giác giật giật, từ đó kích phát kinh khí, một huyệt thấu nhiều kinh, một huyệt nhiều tác dụng.
  • Huyệt Tứ bạch châm thẳng: Dùng thủ pháp Đề sáp Bổ pháp, cho đến khi vùng quanh chỗ châm xuất hiện các cảm giác Thoán, Động, Trừu (Tê rần, Co giật, Giật thót) và lan tỏa về phía mắt.
  • Huyệt Toản trúc dùng Giao kinh thích: Mũi kim hướng xiên xuống dưới vào trong về phía gốc mũi, khiến khí kinh Túc thái dương Bàng quang giao với kinh Túc dương minh Vị, đạt tác dụng một huyệt quán thông hai kinh.
  • Các huyệt Ngư yêu, Ty trúc không, Đồng tử liêu: Châm xiên theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, liên kết nhiều kinh, sơ thông kinh khí.

4. Bệnh án điển hình

Bệnh nhân: Nữ, 62 tuổi, đến khám vào ngày 20/02/2017.

  • Chủ tố: Sụp mi trên bên phải kèm theo nhìn đôi (song thị) hơn 1 tháng nay.
  • Bệnh sử: Ngày 09/01/2017, sau khi bị cảm cúm, bệnh nhân xuất hiện sụp mi trên bên phải, kèm theo nhìn đôi, đau đầu, buồn nôn nôn mửa, toàn thân mệt mỏi vô lực. Bệnh nhân đã đến khám tại một bệnh viện ở Thiên Tân. Kết quả chụp MRI sọ não cho thấy: Tổn thương nhồi máu ổ khuyết ở hạch nền hai bên. Chẩn đoán sơ bộ là liệt dây thần kinh vận nhãn (do nhiễm virus). Sau khi được điều trị bằng các loại thuốc liên quan (không rõ loại), triệu chứng không cải thiện rõ rệt nên xuất viện. Ngày 15/01, bệnh nhân đến Bệnh viện Trung y địa phương để điều trị bằng châm cứu, kết hợp uống Vitamin B1, Vitamin B12. Sau nửa tháng điều trị liên tục, triệu chứng không thuyên giảm đáng kể.
    Tình trạng hiện tại (Khắc hạ chứng): Tỉnh táo, tinh thần khá, mi trên bên phải sụp hoàn toàn, kèm nhìn đôi, không chóng mặt, đau nửa đầu từng cơn. Ăn uống tốt, ngủ tốt, đại tiểu tiện bình thường. Lưỡi nhạt hồng, rêu mỏng trắng, mạch phù hoãn.
  • Tiền sử: Tăng huyết áp hơn 30 năm, thường xuyên dùng thuốc hạ áp, huyết áp kiểm soát tốt. Không có tiền sử đái tháo đường và các bệnh mạch máu não khác.
  • Khám thực thể (Tra thể): Sức cơ tứ chi bậc V (bình thường). Mi trên bên phải sụp hoàn toàn, nhãn cầu phải lác ngoài, vận động hướng vào trong bị hạn chế. Khoảng cách từ bờ trong đồng tử đến khóe mắt trong là 0,8 cm. Kích thước hai đồng tử không đều, Trái:Phải = 4 mm : 6 mm. Phản xạ ánh sáng của đồng tử phải suy giảm.
  • Chẩn đoán Tây y: Liệt dây thần kinh vận nhãn (bên phải).
  • Chẩn đoán Trung y: Kiểm phế (Hội chứng Ngoại cảm phong hàn).
  • Phép trị: Sơ phong tán hàn, điều hòa khí huyết.
  • Phương pháp: Liệu pháp Châm cứu.
  • Chọn huyệt:
    • ① Cự châm pháp: Cự liêu, Hạm yến;
    • ② Phối huyệt cục bộ: Duyên mi (bờ mi) cục bộ;
    • ③ Lấy huyệt lân cận: Tình minh, Tứ bạch, Dương bạch, Toản trúc, Ngư yêu, Ty trúc không, Đồng tử liêu;
    • ④ Lấy huyệt ở xa: Phong trì, Khúc trì, Thiên lịch, Ngoại quan, Hợp cốc.

Quá trình điều trị:
Bệnh nhân nằm ngửa, dùng hào châm kích thước 0.25 mm × 40 mm.

  • Huyệt Hạm yến, Cự liêu đều dùng Cự châm pháp: châm bên lành trước, sau đó châm bên bệnh. Châm Hạm yến tạo góc 45° với da, châm xiên hướng về Đầu duy 10-15 mm. Cự liêu châm thẳng 10-15 mm.
  • Bờ mi cục bộ: Dùng Phàn thích pháp (Châm khều).
  • Dương bạch tam thấu: Lần lượt châm xiên 10 mm ra ngoài lên trên, ra ngoài xuống dưới, vào trong xuống dưới.
  • Toản trúc, Ngư yêu, Ty trúc không, Đồng tử liêu: Châm ngang sang phải theo chiều kim đồng hồ 10-15 mm.
  • Tình minh: Châm nông ở phần da (Bì bộ thiển thích).
  • Tứ bạch: Châm thẳng 15 mm, dùng thủ pháp Đề sáp Bổ pháp, cho đến khi xuất hiện các cảm giác Thoán, Động, Trừu quanh chỗ châm và lan về phía mắt.
  • Phong trì: Áp dụng phương pháp châm thứ nhất của Giáo sư Võ: mũi kim hướng về khóe mắt trong của nhãn cầu đối diện, châm xiên vào trong lên trên. Đâm kim theo nguyên tắc “Thiên, Nhân, Địa tam bộ pháp” (3 bước: Nông, Vừa, Sâu), sâu 13-25 mm. Khi hành châm dùng thủ pháp Niễn chuyển Tả pháp (Vê kim tả).
  • Khúc trì, Thiên lịch, Ngoại quan, Hợp cốc (các huyệt kinh Dương): Đều châm thẳng, đâm dọc theo đường kinh mạch, sâu 15-33 mm.

Lưu kim 30 phút. Điều trị mỗi ngày 1 lần, mỗi tuần 5 lần.

  • Ngày thứ 6: Mi trên bên phải hơi nhấc lên được, khe mi rộng 6 mm. Đồng tử nhỏ lại so với trước (Trái:Phải = 4 mm : 5 mm). Vẫn còn hạn chế vận động nhãn cầu và nhìn đôi. Bác sĩ điều chỉnh cách châm huyệt Tình minh: dùng kim 0.25 mm × 40 mm, tay trái bác sĩ đẩy cố định nhãn cầu ra ngoài, tránh nhãn cầu, đâm kim thẳng đứng sát bờ hốc mắt, châm sâu 33 mm. Lưu kim 30 phút, sau khi rút kim ấn giữ 5 phút.
  • Ngày thứ 9: Hạn chế vận động hướng trong của nhãn cầu được cải thiện, bờ trong đồng tử cách khóe mắt trong 0,4 cm. Tình trạng nhìn đôi thuyên giảm, thỉnh thoảng đau đầu. Điều chỉnh phối huyệt ở xa: chọn Phong trì, Hoàn cốt, Ngoại thiên trụ (Từ chính giữa đường chân tóc gáy đo thẳng lên 0,5 thốn, đo ngang ra 2,3 thốn; tức là đo ra ngoài huyệt Thiên trụ 1 thốn), Dương khê, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc, Trung chử.
  • Ngày thứ 13: Mi trên bên phải nhấc lên rõ rệt, khe mi rộng 10 mm. Vận động nhãn cầu hướng trong cải thiện rõ, bờ trong đồng tử cách khóe mắt trong 0,2 cm. Kích thước đồng tử phải trở về bình thường (Trái:Phải = 4 mm : 4 mm), phản xạ ánh sáng phục hồi bình thường, hết đau đầu chóng mặt.
  • Ngày thứ 18: Mi mắt phải nâng lên hoàn toàn, khe mi hai mắt bằng nhau (Trái:Phải = 12 mm : 12 mm). Mắt phải vẫn còn nhìn đôi nhẹ.
  • Ngày thứ 20: Mắt phải nhìn rõ, vận động hướng trong bình thường. Bệnh nhân kết thúc đợt điều trị. Theo dõi sau 1 tháng, bệnh không tái phát.

5. Tiểu kết

Liệt dây thần kinh vận nhãn trong Trung y được gọi bằng các tên “Mục thiên thị” (mắt nhìn lệch), “Thượng bào hạ thùy” (sụp mi trên), “Nuy bệnh”, “Kiểm phế” (mi mắt rủ liệt)… thuộc phạm trù “Cân túng” (gân chùng nhão) của bệnh lý Kinh cân.

Giáo sư Võ cho rằng, nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh nằm ở tình trạng khí huyết tạng phủ bất túc và phong tà xâm nhập lạc mạch; hoặc do phong đàm làm tắc nghẽn kinh lạc; hoặc chấn thương gây ứ huyết cản trở. Điều này khiến cho khí huyết lưu thông kém, kinh lạc không được nuôi dưỡng, chức năng của gân lạc quanh mắt bị mất kiểm soát, dẫn đến các triệu chứng bất thường về vận động nhãn cầu và sụp mi.

《Linh khu · Đại hoặc luận》 chép: “Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí giai thượng chú vu mục nhi vi chi tinh, tinh chi khoa vi nhãn, cốt chi tinh vi đồng tử, cân chi tinh vi hắc nhãn, huyết chi tinh vi lạc, kỳ khoa khí chi tinh vi bạch nhãn, cơ nhục chi tinh vi ước thúc, khỏa hiệt cân cốt huyết khí chi tinh nhi dữ mạch tịnh vi hệ, thượng xuất vu não, hậu xuất vu hạng trung” (Tinh khí của ngũ tạng lục phủ đều dồn lên mắt tạo thành các phần tinh vi của mắt. Chỗ chứa tinh gọi là mắt, tinh của xương là đồng tử (tròng đen nhỏ), tinh của gân là tròng đen, tinh của máu là lạc mạch, tinh của khí tại đó là tròng trắng, tinh của cơ bắp là mi mắt (ước thúc). Nó bao bọc gom góp tinh của gân, xương, huyết, khí hợp cùng mạch tạo thành cuống mắt (Mục hệ), đi lên xuất phát từ não, ra phía sau tại vùng gáy).

Vì vậy, chìa khóa để điều trị căn bệnh này là Biện chứng luận trị: phân rõ giai đoạn phát triển bệnh và các chứng loại liên quan, tiến hành châm cứu theo nguyên tắc “Lý, Pháp, Phương, Huyệt, Thuật” (Lý luận, Phép trị, Chọn phương, Chọn huyệt, Thủ thuật châm).

Trong quá trình điều trị:

  • Lấy lý luận “Duy cân tương giao” làm cốt lõi. Nhấn mạnh khi dùng Cự châm ở huyệt Hạm yến, Cự liêu, phải châm bên lành trước, bên bệnh sau.
  • Giai đoạn đầu phát bệnh, huyệt Phong trì dùng Tuần kinh thích pháp; giai đoạn giữa và sau, huyệt Phong trì dùng Hoành thích pháp…
  • Đồng thời, thao tác tại mỗi huyệt đều thể hiện tính lượng học của thủ pháp châm cứu. Yêu cầu vị trí huyệt, góc châm, độ sâu, cùng với lực, biên độ, tốc độ và thời gian hành châm phải đạt được sự khách quan hóa, có thể đo lường được. Điều này giúp thao tác châm cứu có khả năng tái lập (có thể sao chép được) và dễ dàng ứng dụng, nhân rộng trên lâm sàng.
Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

Tư vấn chuyên môn bài viết

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

chủ nhiệm phòng khám Đông y Sơn Hà. Hơn 20 năm hành nghề khám chữa bệnh y học cổ truyền. Phục hồi và điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân bị sụp mí mắt, mắt lác (lé), song thị, mắt lồi, tổn thương dây thần kinh, polyp…

Viết một bình luận