Cách Sắc thuốc Đông y và Uống thuốc Đông y thế nào cho đúng?

Quá trình sắc thuốc Đông y sẽ xảy ra những thay đổi: Thứ nhất là sự hòa tan các thành phần có hiệu quả của thuốc; thứ hai là phản ứng hóa hợp giữa các thành phần hoạt tính sinh lý khác nhau trong thuốc. Vì cách sắc thuốc có liên quan chặt chẽ đến hiệu quả điều trị của thuốc thang, nên việc nắm vững cách sắc thuốc đúng là vô cùng quan trọng.

Rửa thuốc:

Trước khi sắc thuốc, nói chung không cần thiết phải rửa. Nếu thực sự cảm thấy dược liệu hơi bẩn, có thể rửa nhanh bằng nước trước khi ngâm, tuyệt đối không ngâm rửa, để tránh làm mất đi một lượng lớn các thành phần hòa tan trong nước, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị của thuốc.

Dụng cụ:

Nên dùng ấm đậy kín nắp hoặc nồi đất vì chất liệu ổn định, dẫn nhiệt đều, nhiệt độ tăng từ từ, chất lượng nước thuốc sắc ra cao hơn; tuy nhiên, nồi đất có nhiều lỗ nhỏ dễ “ám mùi”, lại dễ vỡ, do đó có thể dùng nồi tráng men, nồi inox hoặc dụng cụ thủy tinh thay thế; không được dùng dụng cụ bằng đồng, sắt, nhôm, thiếc,… để tránh một số thành phần của thuốc Đông y phản ứng hóa học làm thay đổi dược tính, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

Ngâm thuốc:

Ngâm thuốc trước khi sắc có lợi cho việc hòa tan hoàn toàn các thành phần có hiệu quả, rút ngắn thời gian sắc thuốc. Dùng nước sạch, lạnh, lượng nước ngập quá mặt thuốc 2-3 cm, ngâm 30 phút (thuốc bổ có thể ngâm lâu hơn), nguyên tắc là dược liệu ngấm đều. Không được dùng nước sôi để ngâm, để tránh protein, tinh bột trên bề mặt dược liệu nhanh chóng bị đông tụ hoặc hồ hóa do nhiệt, khiến một số chất cao phân tử hình thành dạng keo, các thành phần có hiệu quả khó hòa tan, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Lượng nước lần sắc thứ hai có thể giảm bớt.

Xem nhanh nội dung bài viết hiện

Sắc thuốc:

Để điều trị các bệnh thông thường, nên sắc một thang thuốc 2 lần. Đầu tiên dùng lửa to đun sôi, sau khi nước sôi thì tính thời gian sắc, lần sắc thứ nhất 20-25 phút, lần sắc thứ hai 15-20 phút; thuốc giải biểu trị cảm mạo thì lần sắc thứ nhất 10-15 phút là được, lần sắc thứ hai 10 phút, và uống lúc còn nóng; thuốc bổ thì lần sắc thứ nhất 30-40 phút, lần sắc thứ hai 25-30 phút.

Khi sắc thuốc nên khuấy, tránh nước thuốc trào ra ngoài, sắc cạn, cháy khét, hạn chế tối đa việc mở nắp; sau khi sắc xong nên vắt bã lấy nước ngay, người lớn lấy 200-300ml nước thuốc, trẻ em lấy 100-150ml, nếu nước thuốc quá nhiều, có thể cô đặc lại rồi uống. Nếu lỡ sắc cạn, cháy khét, sẽ sinh ra nhiều chất độc hại, thì bỏ đi.

Sắc trước: Dược liệu cứng, khó hòa tan như Long cốt, Mẫu lệ, Quy bản, Thạch cao sống,… cần đập nhỏ rồi sắc sôi 30 phút, sau đó sắc cùng các vị thuốc khác; một số dược liệu có độc tính lớn như Xuyên ô, Phụ tử, Thiên nam tinh, Bán hạ sống cần sắc trước 1-2 tiếng để giảm bớt hoặc loại bỏ độc tính, sau đó cho các vị thuốc khác vào sắc cùng.

Cho vào sau: Dược liệu có mùi thơm, chứa tinh dầu như Bạc hà, Hoắc hương, Tế tân, Sa nhân, Bạch đậu khấu,… nên cho vào nồi khi các vị thuốc khác sắp sắc xong, sắc cùng 2-3 phút là được, để tránh bay hơi, làm giảm hiệu quả điều trị.

Bọc sắc: Dược liệu dạng phấn hoa và hạt nhỏ như phấn hoa Thông, Bồ hoàng, Đinh lịch tử, Thỏ ty tử, Tô tử,… khi sắc thường nổi trên mặt nước, không tiếp xúc hoàn toàn với nước; dược liệu chứa nhiều tinh bột, chất nhầy như Xa tiền tử, Bạch cập,… trong quá trình sắc dễ dính nồi, bị hồ hóa; dược liệu có lông tơ như Toàn phúc hoa, lá Bạc hà,… khi sắc, lông tơ lơ lửng trong nước thuốc, kích thích họng và đường tiêu hóa, dễ gây ho, nôn mửa; do đó, các dược liệu trên đều cần cho vào túi vải để sắc.

Sắc riêng: Dược liệu quý, số lượng ít như Lộc nhung, Linh dương giác, Nhân sâm, Tây dương sâm,… để bảo toàn thành phần có hiệu quả, tránh bị các dược liệu khác hấp thụ khi sắc cùng, nên sắc riêng, sau đó hòa nước thuốc đã sắc vào nước thuốc chung để uống.

Hòa tan uống: Đối với một số dược liệu quý khó hòa tan trong nước như Ngưu hoàng, Xạ hương, Tam thất, Linh dương giác,… nên tán thành bột mịn, sau khi sắc thuốc xong thì cho vào, khuấy đều rồi uống; ngoài ra còn có Tử tuyết tán, Hổ phách tán và Trúc lịch, nước cốt Gừng, nước cốt Sinh địa tươi,… khi dùng thì hòa vào nước thuốc uống cùng, hoặc dùng nước thuốc để chiêu thuốc.

Hãm uống: Dược liệu nhẹ, số lượng ít, chứa nhiều tinh dầu như Cúc hoa, Nghệ tây, Pang đại hải, Phan tả diệp,… dùng nửa cốc nước thuốc nóng hãm, đậy kín nắp 10-15 phút là có thể uống.

Hòa tan (cách thủy): Đối với một số dược liệu dạng keo hoặc đường, có độ dính lớn như A giao, Quy bản giao, Lộc giác giao, Mật ong, mạch nha,… để tránh sắc cùng các dược liệu khác dễ bị dính đáy nồi, cháy khét và dính vào các vị thuốc khác, nên đun cách thủy cho tan chảy, sau đó hòa vào nước thuốc đã sắc xong để uống.

Hòa tan (trong nước): Như Mang tiêu, Huyền minh phấn,… cũng có thể hòa tan vào nước thuốc để uống.

Sắc thuốc bằng máy: Máy sắc thuốc là một dụng cụ sắc thuốc kín hoàn toàn có bộ phận điều khiển điện, sử dụng nước sôi và hơi nước sinh ra để sắc thuốc một lần cho hiệu quả tốt nhất. Sắc thuốc bằng máy rất tiện lợi, có thể nâng cao hiệu suất công việc, giảm nhẹ khối lượng công việc, đảm bảo hiệu quả của thuốc Đông y, phù hợp với yêu cầu vệ sinh, không dễ bị mốc.

Thuốc sắc bằng máy dễ uống hơn. Thông thường, thuốc sắc bằng máy được đóng gói trong túi ni lông y tế, quá trình đóng gói được thực hiện trong điều kiện vô trùng, kín hoàn toàn. Túi nước thuốc chịu được lực ép, không dễ bị rách, mỗi túi nước thuốc có thể bảo quản ở nhiệt độ thường trong khoảng 10 ngày. Khi uống thuốc, chỉ cần cho túi thuốc vào nước nóng ngâm khoảng 10-20 phút là có thể uống. Cũng có thể hâm nóng bằng lò vi sóng rồi uống.

Cách uống:

Trộn đều nước thuốc đã sắc 2 lần, chia thành 2 phần, uống vào buổi sáng và buổi tối, người lớn mỗi thang 300ml chia 2 lần uống, trẻ em trong độ tuổi đi học 200ml chia 2 lần uống, trẻ nhỏ 100ml chia 2 lần uống.

Thời gian uống thuốc nên căn cứ vào bệnh tình của bệnh nhân và tác dụng của thuốc mà quyết định. Thuốc thông thường tốt nhất nên uống sau bữa ăn 1 tiếng; thuốc bổ nên uống lúc đói, dễ hấp thụ; thuốc kiện vị hoặc thuốc thang có tác dụng kích thích đường tiêu hóa nên uống sau khi ăn một chút để hỗ trợ hiệu quả điều trị và giảm kích thích dạ dày; sau khi uống thuốc thanh nhiệt giải biểu, không nên ra gió, và quan sát xem có ra mồ hôi không, cũng như sự thay đổi của thân nhiệt và mạch tượng; thuốc nhuận tràng, tả hạ nên uống lúc đói, dễ dàng tống xuất cặn bã; thuốc tẩy giun sán nên uống lúc đói vào buổi sáng, có thể nâng cao hiệu quả diệt giun sán, sau khi uống cần chú ý sự thay đổi của đại tiện; thuốc điều kinh nên uống trước kỳ kinh nguyệt; thuốc an thần nên uống trước khi đi ngủ. Người cao tuổi dùng thuốc bổ dưỡng cơ thể tốt nhất nên uống trước bữa ăn, đặc biệt là uống lúc đói vào buổi sáng, có lợi cho việc hấp thụ các thành phần bổ dưỡng.

Nước thuốc nguội nên hâm nóng lại rồi uống; hầu hết thuốc Đông y nên uống ấm; thuốc làm ra mồ hôi phải uống nóng để hỗ trợ dược lực; còn thuốc thanh nhiệt tốt nhất nên uống sau khi để nguội.

Những lưu ý khi uống thuốc thang:

Uống thuốc Đông y cần chú ý đến thời gian uống, nhiệt độ uống và những điều kiêng kỵ, mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn.

  • Thời gian uống: Nói chung, bệnh ở dưới tim bụng nên uống trước bữa ăn; bệnh ở trên tim bụng nên uống sau bữa ăn.
  • Nhiệt độ uống: Hầu hết thuốc thang nên uống ấm, thuốc cầm nôn hoặc thuốc thanh nhiệt, giải độc và thuốc nhiệt dùng cho chứng chân hàn, giả nhiệt, thuốc bổ, nên uống lạnh.

Kiêng kỵ khi uống thuốc: Nói chung không nên ăn nhiều các loại đậu, thịt, đồ ăn sống lạnh và các loại đồ ăn chiên rán khác khó tiêu hóa.

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

Tư vấn chuyên môn bài viết

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

chủ nhiệm phòng khám Đông y Sơn Hà. Hơn 20 năm hành nghề khám chữa bệnh y học cổ truyền. Phục hồi và điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân bị sụp mí mắt, mắt lác (lé), song thị, mắt lồi, tổn thương dây thần kinh, polyp…

Viết một bình luận