100+ Câu hỏi và giải đáp chi tiết về Bệnh Liệt mặt từ bác sĩ nhất định bạn nên đọc

Xem nhanh nội dung bài viết hiện

Lời nói đầu

Viêm dây thần kinh mặt là một bệnh thường gặp, với biểu hiện chính là méo miệng lệch mắt, và tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Viêm dây thần kinh mặt ảnh hưởng đến dung mạo và chức năng của khuôn mặt, một khi mắc bệnh, bệnh nhân sẽ cảm thấy lo lắng, sợ hãi. Mắc phải căn bệnh này, nên đi khám khoa nào, uống thuốc gì, cần bao lâu để khỏi, có cần châm cứu không, có cần phẫu thuật không, có thể tự khỏi không, có tái phát không, đối phó như thế nào là phương pháp phù hợp nhất, có để lại di chứng không, nếu có di chứng thì phải làm sao v.v., đều là những vấn đề mà bệnh nhân viêm dây thần kinh mặt rất muốn biết.

Để giúp các bác sĩ tuyến cơ sở, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân có cái nhìn toàn diện hơn về căn bệnh này, từ đó chẩn đoán chính xác, điều trị khoa học và phục hồi hợp lý, Phòng Khám Đông y Sơn Hà đã tổ chức và xây dựng một nền tảng học thuật, lựa chọn các chuyên gia kỳ cựu trong lĩnh vực này, kết hợp với những vấn đề thường gặp nhất của bác sĩ và bệnh nhân trong những năm gần đây để biên soạn tác phẩm phổ biến khoa học về viêm dây thần kinh mặt này. Đối với các kiến thức chuyên môn phức tạp và thuật ngữ khó hiểu, chúng tôi cố gắng diễn giải một cách dễ hiểu, sử dụng ngôn ngữ phổ thông, câu trả lời ngắn gọn, hướng dẫn rõ ràng để giải đáp những thắc mắc trong lòng mọi người. Hy vọng rằng với sự nỗ lực chung của cả bác sĩ và bệnh nhân, chúng ta sẽ mở ra một con đường phục hồi khoa học và hiệu quả cho những bệnh nhân bị viêm dây thần kinh mặt.

Phần I: Khái niệm và Bệnh căn

1. Liệt mặt là gì?

Liệt mặt (mặt liệt) là tình trạng liệt cơ mặt do tổn thương dây thần kinh mặt vì nhiều nguyên nhân khác nhau, đây là một bệnh lý phức tạp ở mặt. Nguyên nhân gây bệnh phần lớn liên quan đến bị lạnh, nhiễm trùng, chấn thương, các bệnh toàn thân hoặc yếu tố bẩm sinh. Biểu hiện lâm sàng chính của liệt mặt là rối loạn chức năng vận động của mặt. Giai đoạn đầu, một số trường hợp liệt mặt có thể chỉ biểu hiện các triệu chứng như khó chịu ở mặt, đau sau tai hoặc đau đầu. Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng như nếp nhăn trán biến mất, khóe mắt xệ xuống, chảy nước mắt, rãnh mũi má mờ đi, uống nước bị chảy ra ở khóe miệng bên bệnh, thức ăn đọng lại ở vùng răng má, miệng méo lệch. Một số bệnh nhân có thể kèm theo chóng mặt, ù tai, giảm vị giác. Các biểu hiện triệu chứng khác nhau của liệt mặt có thể xuất phát từ các nguyên nhân và vị trí tổn thương khác nhau. Do đó, cần phải tìm hiểu và kiểm tra toàn diện các triệu chứng để xác định rõ nguyên nhân, từ đó áp dụng các biện pháp điều trị thích hợp. Điều này có ý nghĩa rất tích cực đối với tiên lượng của bệnh. Cần cố gắng tránh tình trạng bệnh nặng thêm, kéo dài khó chữa, thậm chí gây ra các kết cục bất lợi khác do điều trị không kịp thời hoặc không rõ nguyên nhân.

2. Y học cổ truyền (YHCT) nhận thức về liệt mặt như thế nào?

Trong YHCT, liệt mặt được gọi là “khẩu tịch”. Ngay từ sách Linh Khu, liệt mặt đã được gọi là “khẩu oa”, “tịch”, “tốt khẩu tịch”, “khẩu nhãn oa tà”, chỉ một loại bệnh do phong gây ra, với biểu hiện chính là đột ngột tê bì mặt, méo miệng lệch mắt. Sách Kim Quỹ Yếu Lược gọi là “oa tịch”; Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận gọi là “phong khẩu oa hậu”; sách Tam Nhân Cực Nhất Bệnh Chứng Phương Luận đời Tống ghi là “điếu tuyến phong”. Các y gia đời sau đa phần gọi là “liệt mặt”, “khẩu nhãn oa tà”, “điếu tuyến phong”, “oai chủy phong”.

Hiện nay trên lâm sàng, dựa vào vị trí tổn thương khác nhau, liệt mặt được chia thành liệt mặt trung ương và liệt mặt ngoại biên. Hoặc dựa vào các nguyên nhân khác nhau, liệt mặt được đặt tên cụ thể theo nguyên nhân và phân loại vào các bệnh khác nhau như nhiễm trùng, viêm, khối u, bệnh bẩm sinh, v.v. Trong số các loại liệt mặt, loại có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là liệt dây thần kinh mặt vô căn (idiopathic facial nerve palsy) thuộc nhóm liệt mặt ngoại biên, còn được gọi là liệt Bell (Bell’s palsy) hoặc viêm dây thần kinh mặt (facial neuritis). Đây cũng là loại liệt mặt có tỷ lệ trùng khớp cao nhất với các ghi chép liên quan trong các y văn cổ của YHCT.

3. Biện chứng luận trị liệt mặt theo YHCT cổ phương

Liệt mặt biểu hiện là méo miệng lệch mắt một bên. Người xưa luận trị liệt mặt đa phần xếp vào trong mục trúng phong để bàn luận, vì người xưa cho rằng bệnh này phát sinh có liên quan đến phong tà dẫn động. Sách Nội Kinh ghi chép: “Túc Dương Minh chi cân… kỳ bệnh… tốt khẩu tịch, cấp tắc mục bất hợp, nhiệt tắc cân túng, mục bất khai. Giáp cân hữu hàn, tắc tật dẫn giáp di khẩu; hữu nhiệt tắc cân thỉ túng hoãn, bất thắng thu cố tịch.” (Kinh cân Túc Dương Minh… bệnh của nó… là đột ngột méo miệng, nếu cấp thì mắt không nhắm được, nếu nhiệt thì gân cơ giãn lỏng, mắt không mở được. Gân má có hàn thì co kéo má làm lệch miệng; có nhiệt thì gân cơ giãn lỏng, không co lại được nên bị méo lệch). Sách Linh Khu gọi liệt mặt là “khẩu oa”, “tịch”, “tốt khẩu tịch”, kinh mạch liên quan mật thiết nhất là kinh Túc Dương Minh Vị. Sách đã ghi chép chi tiết về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và phương pháp điều trị của bệnh này.

Sách Kim Quỹ Yếu Lược luận rằng liệt mặt thuộc loại chính khí dẫn tà, gây méo lệch không vận động được, cho rằng tà khí do chính khí dẫn động mà phát thành méo miệng. Lý Đông Viên có nhận thức hơi khác, cho rằng bệnh này là do tà trúng vào huyết mạch. Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận cho rằng phong tà xâm nhập vào kinh Túc Dương Minh, gặp hàn dẫn động mà phát bệnh. Trương Tử Hòa cho rằng mạch của kinh Vị đi vòng quanh miệng và môi, do đó bệnh này phát sinh là do tặc phong hư tà xâm nhập vào mạch Túc Dương Minh Vị. Cách nói này được các y gia đời sau chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong điều trị liệt mặt.

Trong quá trình nhận thức về liệt mặt, người xưa cũng nhận ra rằng có những trường hợp liệt mặt phát bệnh đơn độc, chỉ biểu hiện liệt mặt, cũng có những trường hợp liệt mặt xảy ra trong bệnh liệt nửa người (thiên khô), là một triệu chứng đi kèm của bệnh liệt nửa người. Họ cũng nhận thức được rằng sự phát bệnh, quá trình bệnh và cách điều trị của hai loại này không giống nhau, và đã phân chúng thành bệnh ở gân (cân bệnh) hoặc bệnh ở mạch (mạch bệnh) dựa trên mức độ nặng nhẹ của bệnh.

Về biện chứng luận trị, người xưa phân biệt bệnh dựa trên việc phong tà kết hợp với các tà khí khác. Sách Trung Tàng Kinh đề xuất rằng liệt mặt không chỉ do một mình phong tà gây ra, mà các yếu tố như hàn, nhiệt, thấp, đàm đều có thể kết hợp với phong tà để cùng gây bệnh. Những trường hợp chỉ bị méo miệng lệch mắt đơn thuần mà không bị liệt nửa người, vẫn chủ yếu được cho là do ngoại tà xâm phạm Vị thổ hoặc tà trúng kinh mạch, với phương pháp biện chứng điều trị nhắm vào kinh Túc Dương Minh Vị là nhiều nhất. Sách Y Học Cương Mục – Khẩu Nhãn Oa Tà quan sát thấy có những người chỉ bị méo miệng lệch mắt mà không bị liệt nửa người, ghi rằng: “Phàm bán thân bất toại giả, tất khẩu nhãn oa tà, diệc hữu vô bán thân bất toại nhi oa tà giả.” (Phàm những người liệt nửa người, tất sẽ bị méo miệng lệch mắt, cũng có những người không bị liệt nửa người mà vẫn bị méo lệch). Sách gọi đó là chứng khẩu tịch. Sách Châm Cứu Đại Thành chỉ ra các huyệt vị điều trị liệt mặt là: Giáp Xa, Thủy Câu, Liệt Khuyết, Thái Uyên, Hợp Cốc, Nhị Gian, Địa Thương, Ty Trúc Không. Sách Y Lâm Cải Thác – Khẩu Nhãn Oa Tà Biện cho rằng khi quan sát kỹ méo miệng lệch mắt sẽ thấy “méo miệng lệch mắt, không phải là méo lệch. Là do nửa mặt bên bệnh không có khí, không có khí thì nửa mặt đó thu nhỏ lại. Một mắt không có khí lực, không thể mở tròn, khóe mắt nhỏ bị kéo xuống, nửa miệng không có khí lực không thể mở, khóe miệng bị kéo lên, trên dưới co lại, thoạt nhìn như méo lệch, nhưng thực ra không phải là sự méo lệch trái phải.” Lại cho rằng “Nếu người khỏe mạnh, không bị liệt nửa người, đột nhiên méo miệng lệch mắt, đó là chứng phong tà trở trệ kinh lạc… khí tất không lên được… khí không lên được đến đầu mặt, cũng có thể gây méo miệng lệch mắt. Dùng phương thuốc thông kinh lạc tán phong, một thang là khỏi, lại không phải là phương trị liệt nửa người có thể làm được.” Về điều trị, sách đã phân biệt sự khác nhau giữa liệt mặt đơn thuần và liệt mặt kèm theo liệt nửa người.

Phần II: Phân loại

4. Liệt mặt được chia thành mấy loại?

Dựa vào vị trí tổn thương, liệt mặt thường được chia thành hai loại: liệt mặt trung ương và liệt mặt ngoại biên.

  • Liệt mặt trung ương: Tổn thương xảy ra từ nhân dây thần kinh mặt trở lên đến 1/3 dưới của hồi trán lên ở vỏ não, bao gồm vỏ não, các sợi vỏ não – thân não, bao trong, cầu não, v.v. Về mặt giải phẫu, đây đều là tổn thương các cấu trúc trên nhân của dây thần kinh mặt, thuộc hệ thần kinh trung ương. Do đó, tình trạng liệt cơ mặt do tổn thương ở những vị trí này được gọi là liệt mặt trung ương, thường gặp trong các bệnh lý mạch máu não, u não và viêm não.
  • Liệt mặt ngoại biên: Tổn thương xảy ra tại nhân dây thần kinh mặt và đường đi của dây thần kinh mặt từ nhân trở xuống. Vì tổn thương xảy ra ở dây thần kinh mặt thuộc hệ thần kinh ngoại biên, nên được gọi là liệt mặt ngoại biên, hay liệt dưới nhân. Thường gặp trong các bệnh lý thần kinh ngoại biên do bị lạnh, nhiễm trùng, khối u, v.v. gây ra liệt cơ mặt.

5. Liệt mặt trung ương là gì?

Còn gọi là liệt trên nhân, là tình trạng liệt cơ mặt do tổn thương xảy ra ở các vị trí thuộc trung ương não bộ từ nhân dây thần kinh mặt trở lên, bao gồm vỏ não, các sợi vỏ não – thân não, bao trong, cầu não. Triệu chứng điển hình của liệt mặt trung ương là: nếp nhăn trán hai bên vẫn còn, chỉ biểu hiện liệt các cơ mặt dưới hốc mắt ở bên đối diện với vùng não bị tổn thương. Từ trên xuống dưới, bên liệt biểu hiện rãnh mũi má mờ đi, khóe miệng không thể nhếch lên, khi nhe răng hoặc cười thì khóe miệng méo về bên có tổn thương, bên liệt không thể làm các động tác chu môi, huýt sáo và phồng má. Bệnh nhân thường kèm theo liệt nửa người cùng bên với bên mặt bị liệt, và thường không có rối loạn vị giác và tiết nước bọt.

6. Liệt mặt ngoại biên là gì?

Còn gọi là liệt dưới nhân, là tình trạng liệt mặt do tổn thương xảy ra tại nhân dây thần kinh mặt và đường đi của nó trở xuống. Vì dây thần kinh bị tổn thương thuộc hệ thần kinh ngoại biên, nên được gọi là liệt mặt ngoại biên hoặc liệt dưới nhân. Liệt mặt ngoại biên có thể được chia thành liệt mặt vô căn và liệt mặt thứ phát. Liệt mặt vô căn chiếm hơn một nửa số trường hợp liệt mặt ngoại biên, còn liệt mặt thứ phát là do các nguyên nhân như khối u, chấn thương, nhiễm trùng, v.v.

Triệu chứng điển hình của liệt mặt ngoại biên là: tất cả các cơ do dây thần kinh mặt bên tổn thương chi phối đều bị liệt. Từ trên xuống dưới biểu hiện: nếp nhăn trán biến mất, không thể nhăn trán, cau mày, nhắm mắt; rãnh mũi má mờ đi, khóe miệng xệ xuống; khi nhe răng hoặc cười thì khóe miệng méo về bên lành; bên bệnh không thể làm các động tác cau mày, nhắm mắt, chu môi, huýt sáo và phồng má; uống nước bị chảy ra, ăn cơm bị đọng lại giữa răng và má. Bên bệnh có thể kèm theo chảy nước mắt, ù tai, giảm vị giác ở 2/3 trước lưỡi, rối loạn tiết nước bọt, nói không rõ hoặc chóng mặt.

7. Liệt mặt ngoại biên được chia thành mấy loại?

  • (1) Liệt mặt cấp tính và bán cấp: Đây là loại phổ biến nhất. Vì đa số trường hợp xảy ra sau khi bị lạnh, trúng gió hoặc cảm cúm, nên nguyên nhân chính là do nhiễm virus. Các chất độc (như nhôm, chloroform), các bệnh chuyển hóa (như tiểu đường, porphyria) có thể gây liệt dây thần kinh mặt cấp tính hoặc bán cấp. Các bệnh truyền nhiễm (như bạch hầu, quai bị, sởi Đức) cũng có thể gây biến chứng liệt mặt.
  • (2) Liệt mặt mạn tính tiến triển: Liệt mặt mạn tính khởi phát âm thầm, diễn tiến chậm, tiến triển dần dần, với nguyên nhân thường gặp nhất là các khối u lành/ác tính, ví dụ như u thần kinh thính giác, u tuyến mang tai, u xương đá, u nền sọ hoặc sarcoma. Ngoài ra, một số bệnh truyền nhiễm đặc hiệu như viêm dây thần kinh mặt do bệnh phong cũng biểu hiện là liệt mặt mạn tính.
  • (3) Liệt mặt tái phát: Loại liệt mặt này tái phát nhiều lần, thường gặp trong các bệnh như xơ cứng rải rác, bệnh tabes спинная, hội chứng Melkersson-Rosenthal. Trong đó, hội chứng Melkersson-Rosenthal có biểu hiện điển hình nhất.
  • (4) Liệt mặt ngoại biên hai bên: Biểu hiện là liệt cả hai bên mặt, có thể gặp trong viêm dây thần kinh mặt vô căn hai bên, hội chứng Guillain-Barré, bệnh phong, viêm tai giữa hai bên (gặp trong biến chứng của bệnh tinh hồng nhiệt), giang mai, viêm tủy xám sừng trước, viêm não do virus, liệt hành tủy tiến triển và nhược cơ nặng.
  • (5) Liệt mặt bẩm sinh: Liệt mặt bẩm sinh thường xảy ra ngay sau khi sinh, đa phần là các bệnh di truyền và phát triển, liên quan đến các bệnh gen. Bệnh nhân có các triệu chứng như thiểu sản nhân dây thần kinh mặt, dị dạng phát triển xương đá.

8. Liệt Bell (Bell’s palsy) là gì?

Liệt Bell (Bell’s palsy), còn gọi là liệt dây thần kinh mặt vô căn, viêm dây thần kinh mặt, thuộc một loại liệt thần kinh ngoại biên. Trên lâm sàng, đa số bệnh nhân phát bệnh có liên quan đến viêm, nhiễm trùng, bị lạnh, suy giảm miễn dịch gây thiếu máu thiếu oxy dây thần kinh mặt. Bệnh nhân biểu hiện liệt một bên mặt, các triệu chứng điển hình là bên bệnh không thể cau mày, khe mắt mở to, nếp nhăn trán biến mất, mí mắt nhắm không kín, rãnh mũi má mờ đi, không thể phồng má, khóe miệng xệ xuống, khi nhe răng thì khóe miệng lệch về bên lành, thổi khí bị hở, uống nước bị chảy ra, v.v. Do bác sĩ Bell (1774-1842) trong nghiên cứu của mình đã xác định các dây thần kinh chi phối mặt được chia thành dây thần kinh vận động (dây thần kinh mặt) và dây thần kinh cảm giác (dây thần kinh sinh ba), và trên cơ sở đó đã triển khai các nghiên cứu lâm sàng về liệt dây thần kinh mặt. Để kỷ niệm những đóng góp quan trọng của ông, loại liệt mặt này được đặt tên là liệt Bell.

9. Liệt mặt vô căn là gì?

Liệt dây thần kinh mặt vô căn, còn gọi là viêm dây thần kinh mặt, liệt Bell, trong YHCT gọi là khẩu tịch, khẩu nhãn oa tà, là một rối loạn chức năng cấp tính của dây thần kinh mặt. Nguyên nhân chính là do virus herpes simplex type I (HSV-1) tiềm ẩn trong các hạch thần kinh sọ, khi môi trường thay đổi, virus được kích hoạt trở lại, nhưng cơ chế cụ thể virus phá hủy dây thần kinh mặt vẫn chưa rõ ràng. Trên lâm sàng, liệt dây thần kinh mặt vô căn có biểu hiện chính là giảm hoặc mất chức năng vận động tự chủ và biểu cảm của mặt bên bệnh, rối loạn dinh dưỡng của dây thần kinh mặt và các mô cơ biểu cảm. Bệnh này ảnh hưởng đáng kể đến dung mạo và chức năng của mặt. Giai đoạn sớm của bệnh có thể xuất hiện phù nề dây thần kinh mặt, dây thần kinh bị phù nề sẽ ở trong tình trạng thiếu máu thiếu oxy. Dây thần kinh mặt đi trong ống xương, do chính nó bị phù nề nên có thể bị chèn ép nghiêm trọng, dẫn đến hoại tử, thoái hóa thần kinh và mất chức năng.

Hiện nay, các phương pháp điều trị có thể được chia thành điều trị bằng thuốc và vật lý trị liệu. Giai đoạn sớm trong vòng 7-10 ngày, chủ yếu điều trị bằng thuốc chống phù nề, kháng virus, bổ thần kinh. Sau giai đoạn phù nề 7-10 ngày, châm cứu, vật lý trị liệu, tập luyện phục hồi chức năng chiếm vị trí quan trọng hơn trong điều trị. Bệnh nhân mức độ nhẹ và trung bình có thể gần như khỏi hoàn toàn sau 1-3 tháng điều trị, nhưng có hơn 1/3 bệnh nhân mức độ trung bình và nặng có thể để lại di chứng ở các mức độ khác nhau. Do đó, việc xác định rõ nguyên nhân, kịp thời đưa ra phác đồ điều trị phù hợp có ý nghĩa rất tích cực đối với tiên lượng của bệnh.

10. Liệt mặt cảm xúc là gì?

Liệt mặt cảm xúc chủ yếu biểu hiện là liệt cơ mặt khi có các vận động cảm xúc như cười hoặc khóc, trong khi ở các vận động chủ ý, cơ mặt vẫn có thể co lại. Loại liệt mặt cảm xúc này thuộc liệt mặt trung ương, thường xuất hiện khi bệnh nhân có biến động cảm xúc mạnh mẽ, kèm theo các biểu cảm như khóc to hoặc cười lớn. Khi không có vận động cảm xúc, liệt mặt không rõ ràng, và khi mặt thực hiện các vận động chủ ý như nhai thì không xuất hiện liệt mặt. Liệt mặt cảm xúc phát sinh do tổn thương hệ thần kinh trung ương ở hệ ngoại tháp như các hạch nền, đồi thị hoặc vùng dưới đồi, nhưng vị trí tổn thương chính xác của nó cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Hiện tại, các nhà khoa học chỉ phỏng đoán rằng liệt mặt cảm xúc và liệt mặt chủ ý có thể xuất hiện riêng biệt là do chúng được chi phối bởi các vùng não khác nhau. Sự không đồng bộ trong quá trình phát bệnh và hồi phục của chúng có thể liên quan đến nhiều yếu tố như mức độ tổn thương và khả năng phục hồi của các vùng não này.

11. Liệt mặt do chấn thương là gì?

Liệt mặt do chấn thương là tình trạng liệt mặt do dây thần kinh mặt bị tổn thương dưới tác động của ngoại lực. Liệt mặt do chấn thương được chia thành 5 cấp độ tùy theo mức độ tổn thương. Liệt mặt do chấn thương mức độ nhẹ, tức là tổn thương dây thần kinh mặt mà màng trong thần kinh (endoneurium) vẫn còn nguyên vẹn, có thể chỉ là tổn thương mất chức năng thần kinh, biểu hiện là rối loạn chức năng mặt tạm thời, sau khi điều trị bảo tồn có thể phục hồi trong vòng 3 tháng đến nửa năm. Tổn thương cấp độ 5 là đứt hoàn toàn thân dây thần kinh mặt, hai đầu đứt rời ra hoặc tạo ra khoảng trống, mô liên kết sợi tăng sinh có thể tạo thành các dải sẹo nối liền, chức năng thần kinh mất hoàn toàn, là loại nặng nhất trong liệt mặt do chấn thương, sau khi được đánh giá ngoại khoa có thể tiến hành phẫu thuật. Nguyên nhân của liệt mặt do chấn thương có thể được quy thành tổn thương cơ học (bao gồm chấn thương do đè ép, rách, cắt), tổn thương vật lý (bao gồm tổn thương do nóng lạnh, phóng xạ), tổn thương hóa học (như các loại thuốc penicillin, canxi bromua) và tổn thương do y tế gây ra.

12. Hội chứng Hunt là gì?

Hội chứng Hunt lần đầu tiên được Ramsay và Hunt đề xuất vào năm 1907, tên đầy đủ là hội chứng Ramsay-Hunt, còn được gọi là hội chứng zona hạch gối, zona tai, đau dây thần kinh hạch gối. Bệnh này là do virus zona (varicella-zoster virus) từ tai qua da xâm nhập vào hạch gối, thân chính dây thần kinh mặt, gây ra các tổn thương viêm, xuất huyết. Vì dây thần kinh mặt và dây thần kinh tiền đình – ốc tai đều nằm cạnh nhau trong ống tai trong hẹp và được bao bọc bởi cùng một bao thần kinh, nên dễ ảnh hưởng đến dây thần kinh tiền đình – ốc tai, gây biến chứng rối loạn thính giác, cân bằng. Bệnh nhân bị liệt mặt đồng thời xuất hiện các triệu chứng như chóng mặt, ù tai, tăng nhạy cảm với âm thanh. Triệu chứng đầu tiên của hội chứng Hunt là đau tai hoặc đau đầu, thường sau khi nổi mụn rộp ở tai 1-10 ngày thì xảy ra liệt mặt bên bệnh. Bệnh nhân đồng thời xuất hiện ù tai, chóng mặt, tăng nhạy cảm với âm thanh, rung giật nhãn cầu tự phát, rối loạn tiết nước bọt, nước mắt, 2/3 trước lưỡi bên bệnh cảm giác kém. So với hội chứng Bell, hội chứng Hunt khởi phát nặng hơn, tổn thương rộng hơn, phục hồi chậm hơn và tiên lượng tương đối kém hơn.

13. Hội chứng Melkersson-Rosenthal và liệt mặt có mối quan hệ gì?

Hội chứng Melkersson-Rosenthal là một hội chứng thần kinh, da, niêm mạc ít gặp. Bệnh này thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, biểu hiện lâm sàng là bộ ba triệu chứng chính: liệt mặt ngoại biên tái phát, phù môi và mặt tái phát, và lưỡi nếp gấp (lưỡi bìu). Nguyên nhân của bệnh chưa rõ, có thể liên quan đến rối loạn thần kinh tự chủ. Đồng thời, do rối loạn chức năng thần kinh vận mạch gây co thắt, giãn nở bất thường các mạch máu nhỏ, dẫn đến phù môi và lưỡi. Suy giảm chức năng miễn dịch của cơ thể có thể là yếu tố khởi phát bệnh.

Hiện tại bệnh này chưa có phương pháp điều trị triệt để, chủ yếu là điều trị triệu chứng để cải thiện tuần hoàn tại chỗ, loại bỏ viêm, phù nề. Một số bệnh nhân có đáp ứng với điều trị bằng hormone, cũng có thể sử dụng các liệu pháp YHCT và vật lý trị liệu. Bệnh này có thể liên quan đến yếu tố di truyền, các triệu chứng có thể tự thuyên giảm, cũng có thể tái phát nhiều lần. Những người tái phát nhiều lần có thể tồn tại tình trạng liệt dây thần kinh mặt kéo dài. Bệnh này không ảnh hưởng đến tuổi thọ và sinh hoạt hàng ngày, tiên lượng tốt, nhưng có thể tái phát. Đối với những người có yếu tố gia đình, cần được tư vấn di truyền. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm tránh kết hôn cận huyết, xét nghiệm gen cho người mang mầm bệnh, v.v.

Phần III: Dịch tễ học

14. Tình hình mắc các loại liệt mặt như thế nào?

Liệt mặt là một bệnh lý phức tạp ở mặt, theo thống kê chưa đầy đủ, tình hình nguyên nhân gây bệnh như sau:

  1. Liệt mặt vô căn (liệt Bell): Chiếm hơn 60%, tỷ lệ mắc bệnh là (11.5-53.3)/100.000 người, là bệnh lý về dây thần kinh mặt phổ biến nhất. Nguyên nhân của liệt Bell đa phần do mệt mỏi, bị lạnh.
  2. Liệt mặt do nhiễm trùng: Chiếm khoảng 30%, các tổn thương nhiễm trùng thường do viêm não, viêm màng não, quai bị, cúm, tinh hồng nhiệt, sốt rét, viêm đa dây thần kinh sọ, nhiễm trùng tại chỗ, bọ ve cắn, v.v. gây ra. Các bệnh từ tai như viêm tai giữa, viêm mê đạo, viêm xương chũm, viêm mủ xương thái dương cũng là nguyên nhân gây liệt mặt do nhiễm trùng.
  3. Khối u: Chiếm khoảng 5.5%, cả bản thân khối u và việc phẫu thuật cắt bỏ khối u đều có thể gây ra. Các khối u bao gồm: phình động mạch nền, u nền sọ, u thần kinh thính giác, u tuyến mang tai, u cholesteatoma nguyên phát và u cuộn cảnh.
  4. Liệt mặt do nguyên nhân thần kinh: Chiếm khoảng 13.5%, do bệnh mạch máu não, các nguyên nhân thần kinh nội sọ, không do chấn thương gây ra.
  5. Liệt mặt do chấn thương: Chiếm tỷ lệ dưới 10%, vỡ nền sọ, vỡ xương thái dương, chấn thương mặt, phẫu thuật và tiêm các loại thuốc độc thần kinh vào vùng phân bố của dây thần kinh mặt như cồn, penicillin và botulinum toxin đều có thể gây ra.
  6. Các nguyên nhân khác: Ngộ độc (như ngộ độc rượu, tiếp xúc lâu dài với chất độc), rối loạn chuyển hóa (như tiểu đường, thiếu vitamin), suy chức năng mạch máu, thiểu sản bẩm sinh, v.v. đều có thể xuất hiện liệt mặt.

15. Tình hình mắc liệt dây thần kinh mặt vô căn, tức liệt Bell như thế nào?

Các cuộc điều tra trước đây về tình hình mắc liệt mặt cho thấy, trong số những người bị liệt mặt, bệnh nhân liệt Bell có thể chiếm từ 50%-60% trở lên, hội chứng Hunt có thể chiếm khoảng 20%, cả hai có thể chiếm 60% hoặc hơn số người mắc liệt mặt. Các loại khác như liệt mặt do chấn thương chiếm khoảng 9.6%, liệt mặt do tai chiếm khoảng 6.8%, liệt mặt do khối u chiếm 3.2%, liệt mặt trung ương chiếm 3.2%, và các loại khác chiếm 7.3%.

Liệt Bell có liên quan đến bị lạnh, mệt mỏi, suy giảm miễn dịch, chấn thương do phẫu thuật, nhổ răng, v.v. Tỷ lệ mắc liệt Bell ở Trung Quốc cao hơn ở nước ngoài, theo báo cáo, tỷ lệ mắc bệnh ở Trung Quốc là 35/100.000 dân, trong khi ở nước ngoài là khoảng 5/100.000 dân, nguyên nhân vẫn chưa rõ. Trong các nghiên cứu điều tra hiện tại, chưa phát hiện trường hợp tử vong do bệnh này. Tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ là 1:1.2, có thể gặp ở mọi lứa tuổi từ 5 tháng đến 70 tuổi. Mùa hè và mùa thu có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn một chút so với mùa đông và mùa xuân. Đa số trường hợp liên quan đến các yếu tố như mệt mỏi, bị lạnh, uống rượu, biến động cảm xúc. Gần đây có báo cáo về các trường hợp liệt mặt sau khi nhiễm virus corona mới, nhưng vẫn khó xác định chính xác mối quan hệ nhân quả. Một phần đáng kể bệnh nhân không thể truy tìm được nguyên nhân phát bệnh rõ ràng.

Bệnh này có xu hướng tự khỏi, thời gian phục hồi ngắn thì một tháng, dài thì vài năm. Tình hình phục hồi trước hết liên quan đến mức độ nặng nhẹ của bệnh, ngoài ra còn liên quan đến các biện pháp điều trị và phục hồi hợp lý. Người đã bị liệt mặt một lần có khả năng bị lại lần thứ hai và nhiều lần, liệt mặt có thể xuất hiện cùng bên hoặc đối diện với lần trước.

16. Liệt Bell và hội chứng Hunt có gì khác nhau về mặt bệnh căn?

Cả hai bệnh đều có thể gặp ở người trẻ, người trưởng thành và người già. Liệt Bell thường gặp hơn ở người trẻ và trưởng thành, trong khi liệt Hunt có xu hướng xảy ra ở người trung niên và người già có thể chất yếu.

  • Các triệu chứng tiền đình – ốc tai trong liệt Bell thường không nghiêm trọng bằng hội chứng Hunt.
  • Trong hội chứng Hunt, các triệu chứng tiền đình – ốc tai như điếc, ù tai, chóng mặt rõ ràng hơn và thường gặp hơn.
  • Trong thử nghiệm nóng lạnh, tỷ lệ bất thường ở bệnh nhân liệt Bell là khoảng 20%, trong khi ở bệnh nhân hội chứng Hunt là khoảng 65%.
  • Xét nghiệm kháng thể virus ở bệnh nhân liệt Bell đa phần là nhiễm đơn thuần virus herpes simplex, adenovirus; trường hợp đồng nhiễm virus herpes simplex và virus zona hiếm gặp. Trong khi đó, ở bệnh nhân hội chứng Hunt, trường hợp đồng nhiễm virus zona và virus herpes simplex thường gặp hơn.

Phần IV: Nguyên nhân

17. Những nguyên nhân nào gây ra liệt mặt?

Nhìn chung, cả các bệnh toàn thân và các bệnh tại chỗ của dây thần kinh mặt đều có khả năng gây ra liệt mặt. Tổn thương ở các vị trí khác nhau trên đường đi của dây thần kinh mặt có thể gây ra các triệu chứng khác nhau.

  • Tổn thương trên nhân dây thần kinh mặt: Tức là tổn thương ở các vùng trung ương não bộ như vỏ não, vùng vỏ não – thân não, bao trong, cầu não. Thường gây liệt nửa mặt dưới hốc mắt bên đối diện với tổn thương. Bệnh nhân vẫn có thể thực hiện các vận động chủ ý như nhai, nói, nhưng khi có các hoạt động biểu cảm như khóc, cười thì có thể xuất hiện liệt mặt. Thường kèm theo các dấu hiệu bệnh toàn thân khác như liệt chi. Gặp trong tai biến mạch máu não, u não, viêm não tủy, xơ cứng rải rác, viêm não, u di căn, chấn thương, v.v.
  • Tổn thương ở đoạn góc cầu tiểu não: Tổn thương dễ lan đến dây thần kinh ốc tai và tiền đình, gây liệt mặt, không có nước mắt, ù tai, chóng mặt, giảm vị giác, giảm tiết nước bọt. Gặp trong u thần kinh, u màng não, u cholesteatoma bẩm sinh, gãy xương, ung thư di căn, v.v.
  • Tổn thương ở hạch gối: Gây liệt mặt kèm theo tăng nhạy cảm với âm thanh, giảm vị giác, giảm tiết nước bọt và nước mắt. Thường gặp trong zona tai, liệt Bell, gãy xương, u cholesteatoma, u màng não, v.v.
  • Tổn thương ở đoạn trong hòm nhĩ – xương chũm: Liệt mặt có thể kèm theo tăng nhạy cảm với âm thanh, thay đổi vị giác và tiết nước bọt, nhưng tiết nước mắt có thể không bị ảnh hưởng. Thường gặp trong liệt Bell, các loại u thần kinh lành/ác tính, gãy xương hoặc ung thư di căn.
  • Tổn thương ở đoạn ngoài sọ: Liệt mặt thường xảy ra ở một hoặc vài nhánh của dây thần kinh trên mặt, hiếm khi ảnh hưởng đến tất cả các nhánh. Đồng thời, chức năng phó giao cảm và vị giác của mặt vẫn bình thường. Các tổn thương tại chỗ ở vùng tuyến mang tai, vùng họng thường có thể sờ thấy khối u, nguyên nhân có thể là u tuyến mang tai, u họng, hoặc do chấn thương.

18. Những bệnh nào gây ra liệt mặt ngoại biên?

Dây thần kinh mặt có thể bị tổn thương đơn độc, hoặc cùng lúc với các dây thần kinh sọ hoặc cấu trúc thần kinh lân cận khác. Nguyên nhân phổ biến nhất của tổn thương dây thần kinh ngoại biên là viêm dây thần kinh mặt gây ra liệt mặt vô căn (liệt Bell), tiếp theo là các nguyên nhân từ tai, chấn thương, zona tai. Các bệnh toàn thân bao gồm tiểu đường, viêm não, viêm tủy xám, xơ cứng rải rác, bệnh mất myelin, tinh hồng nhiệt, sốt rét, viêm đa dây thần kinh sọ, khối u, v.v. cũng có thể xâm hại dây thần kinh mặt và gây liệt mặt ngoại biên. Cần phải kiểm tra toàn diện trên lâm sàng mới có thể xác định rõ nguyên nhân.

19. Nguyên nhân của liệt dây thần kinh mặt vô căn là gì?

Liệt dây thần kinh mặt vô căn là tình trạng liệt dây thần kinh ngoại biên do viêm dây thần kinh mặt cấp tính không mưng mủ trong lỗ trâm chũm, nguyên nhân chính xác vẫn chưa được xác định rõ. Một phần đáng kể bệnh nhân khởi phát sau khi bị gió thổi, bị lạnh. Thường cho rằng sau khi phát bệnh, dây thần kinh bị sưng, chèn ép, gây thiếu máu, thiếu oxy cục bộ. Vỏ myelin hoặc sợi trục của dây thần kinh bị thoái hóa ở các mức độ khác nhau, chức năng thần kinh bị tổn thương dẫn đến liệt các cơ mà nó chi phối.

Thay đổi bệnh lý giai đoạn đầu chủ yếu là phù nề dây thần kinh mặt, tình trạng phù nề ở lỗ trâm chũm và trong ống thần kinh mặt gây tổn thương thần kinh nghiêm trọng nhất, điều này liên quan đến việc dây thần kinh bị phù nề bị chèn ép trong ống xương. Một số bệnh nhân, các tế bào xương của mỏm chũm và ống thần kinh mặt có thể bị thoái hóa. Gần đây, với sự hoàn thiện và tiến bộ của các phương pháp kiểm tra, người ta đã phát hiện ra các tổn thương ở các dây thần kinh lân cận khác, do đó, nguyên nhân và ý nghĩa của liệt dây thần kinh mặt vô căn cũng đang được điều chỉnh liên tục.

Kết quả nghiên cứu hiện tại cho thấy, nhiều nguyên nhân như lạnh, chấn thương, thiếu máu, thiếu oxy, nhiễm trùng, rối loạn nội tiết, phản ứng tự miễn亢進 (tăng cường) đều có thể gây ra bệnh này. Có nghiên cứu cho rằng nhiễm virus là nguyên nhân khả dĩ nhất, nhưng cho đến nay, chưa có báo cáo nào phân lập được virus một cách rõ ràng. Một số yếu tố bẩm sinh như hẹp ống thần kinh mặt bẩm sinh, các yếu tố chấn thương như nhổ răng, phẫu thuật thẩm mỹ cũng được báo cáo có thể gây ra bệnh này. Ngoài ra, các bệnh toàn thân như tăng huyết áp, tiểu đường, ngộ độc, cơ địa dị ứng cũng có thể gây ra, do đó cần phải phân tích tổng hợp nhiều yếu tố phức hợp để đưa ra phán đoán toàn diện về nguyên nhân.

20. Liệt dây thần kinh mặt vô căn có liên quan đến nhiễm virus không?

Liệt dây thần kinh mặt vô căn được cho là có liên quan đến nhiễm virus. Trong các nghiên cứu dài hạn và quy mô lớn, các loại virus được đề cập nhiều nhất là virus herpes simplex, virus thủy đậu-zona, cytomegalovirus, virus EB, adenovirus và một số loại virus khác. Trong đó, bốn loại đầu tiên đều thuộc nhóm virus herpes simplex, do đó bệnh này được cho là có khả năng liên quan nhất đến nhiễm virus herpes simplex. Người ta phỏng đoán rằng cơ chế gây bệnh không phải do nhiễm virus gần đây, mà là do virus tiềm ẩn trong cơ thể được tái kích hoạt dưới sự thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài. Sự tái kích hoạt virus này có thể được khởi phát khi hệ miễn dịch của cơ thể suy yếu.

21. Liệt dây thần kinh mặt vô căn có liên quan đến miễn dịch không?

Một số học giả cho rằng liệt dây thần kinh mặt vô căn là một bệnh miễn dịch. Họ cho rằng cơ chế gây bệnh là do virus trong cơ thể khởi động và kích hoạt một phản ứng kháng nguyên-kháng thể nào đó. Phản ứng này có thể gây phù nề dây thần kinh mặt và các mô xung quanh, làm tăng áp lực trong ống thần kinh mặt, dẫn đến dây thần kinh bị chèn ép, thoái hóa, chức năng bị tổn thương và gây ra liệt cơ mặt. Suy giảm miễn dịch tạm thời có thể là một nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh này. Tuy nhiên, cơ chế miễn dịch nào gây ra sự suy giảm này hiện vẫn chưa rõ ràng và cần được nghiên cứu thêm.

22. Mặt bị trúng gió có phải là nguyên nhân gây liệt dây thần kinh mặt vô căn không?

Thần kinh thừng nhĩ (chorda tympani) của con người, trong đoạn đi qua tai giữa, có một phần tiếp xúc với không khí. Bề mặt của thần kinh thừng nhĩ đi qua đoạn màng nhĩ chỉ được bao phủ bởi một lớp sợi mỏng. Các mạch máu ở vùng bám của nó khi gặp lạnh rất dễ bị co thắt mạnh, gây thiếu máu và phù nề thần kinh thừng nhĩ. Tình trạng phù nề không do viêm này có thể lan rộng và ảnh hưởng đến thân chính của dây thần kinh mặt, từ đó gây ra liệt mặt. Do đó, không khí lạnh thổi vào ống tai ngoài có thể gây liệt dây thần kinh mặt. Việc mặt, đặc biệt là vùng tai và khu vực lân cận, bị gió thổi và lạnh rất dễ ảnh hưởng đến dây thần kinh mặt và gây ra liệt mặt. Tất nhiên, đây chỉ là một phần trường hợp. Còn rất nhiều bệnh nhân liệt mặt mà bị lạnh chỉ là yếu tố khởi phát chứ không phải là toàn bộ nguyên nhân, cần phải biện chứng luận trị.

23. Liệt dây thần kinh mặt vô căn có phải do di truyền không?

Có nghiên cứu cho rằng liệt dây thần kinh mặt vô căn có một yếu tố nhạy cảm gia đình nhất định. Trong các cuộc điều tra về các gia đình có người bị liệt mặt, người ta phát hiện bệnh này có đặc điểm di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nhưng viêm dây thần kinh mặt có tính gia đình khá hiếm gặp. Có học giả phỏng đoán rằng bệnh nhân liệt mặt có thể phát bệnh do sự tương tác giữa gen và môi trường, nhưng hiện tại vẫn thiếu bằng chứng xác thực và sự làm sáng tỏ hiệu quả về các vị trí gen và con đường di truyền của bệnh.

24. Giai đoạn mang thai và sinh sản có thể xuất hiện liệt dây thần kinh mặt vô căn không?

Nghiên cứu của chính bác sĩ Bell đã chỉ ra rằng liệt mặt có thể gặp ở phụ nữ mang thai và sản phụ. Liệt mặt thường xảy ra trong ba tháng cuối của thai kỳ hoặc giai đoạn đầu sau sinh. Điều này có thể liên quan đến sự thay đổi môi trường bên trong cơ thể của phụ nữ trong giai đoạn mang thai và sinh sản. Đặc biệt là ở giai đoạn cuối thai kỳ, lượng dịch ngoại bào trong cơ thể thai phụ tăng lên đáng kể, đặc biệt đối với những người bị cao huyết áp, áp lực trong ống thần kinh mặt cũng sẽ tăng lên. Ở những thai phụ bị liệt Bell, tỷ lệ mắc tiền sản giật cao hơn nhiều lần so với thai phụ bình thường. Ngoài ra, sự gia tăng corticosteroid trong cơ thể thai phụ có thể gây ức chế miễn dịch, làm cho các virus có sẵn được kích hoạt, khiến thai phụ dễ bị nhiễm virus herpes simplex hoặc các virus khác và gây ra liệt mặt.

Tình trạng sinh lý đặc biệt trong giai đoạn mang thai và sinh sản khiến dây thần kinh mặt dễ bị virus và viêm nhiễm tấn công gây liệt mặt. Điều trị bằng hormone không có sự thay đổi chắc chắn đối với việc phục hồi liệt mặt, nhiều vấn đề trong lĩnh vực này vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn. Do tác động của kích thích đau đối với quá trình mang thai và sinh sản, trong thai kỳ thường không thực hiện châm cứu. Tuy nhiên, đối với phụ nữ sau sinh và đang cho con bú, so với điều trị bằng thuốc, châm cứu có thể trở thành lựa chọn hàng đầu.

25. Bọ ve cắn có thể gây liệt mặt không?

Bọ ve cắn ở vùng ống tai ngoài rất có khả năng gây ra liệt mặt. Bất kỳ bệnh nhân nào có tiền sử sống, du lịch ở khu vực rừng, đồng cỏ hoặc nuôi thú cưng, một khi đột nhiên xuất hiện đau dữ dội ở tai và bị liệt mặt, cần chú ý hỏi bệnh nhân xem họ có cảm thấy có con côn trùng nhỏ chui vào tai không, và cần kiểm tra ngay tình trạng ống tai ngoài của họ, xem có bọ ve bám trong ống tai không. Sau khi bọ ve cắn người, nó có thể liên tục tiết ra độc tố gây tê liệt thần kinh. Mức độ tê liệt thần kinh liên quan đến việc tiết độc tố liên tục. Độc tố gây tác dụng tê liệt thần kinh đối với cơ thể. Việc lấy bọ ve ra kịp thời có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phục hồi thần kinh và tiên lượng bệnh.

26. Viêm tai giữa có thể dẫn đến liệt mặt không?

Khi viêm tai giữa cấp tính lan rộng, ảnh hưởng đến dây thần kinh mặt lân cận, hoặc viêm tai giữa mạn tính kèm theo cholesteatoma chèn ép dây thần kinh mặt, đều có thể gây ra liệt mặt. Liệt mặt do viêm tai giữa cấp tính giai đoạn sớm thường gặp ở trẻ em, đa số có tiên lượng tốt. Đối với những trường hợp ống tai ngoài sưng đau rõ rệt, qua kiểm tra phát hiện ống xương bị phá hủy, mô hạt tăng sinh, viêm nhiễm xâm lấn tai giữa, xương thái dương và nền sọ, cần phải phẫu thuật sớm. Liệt mặt xuất hiện trong các trường hợp viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma chèn ép, hoặc kèm theo rò ống bán khuyên, cũng cần được phẫu thuật kịp thời.

27. Bệnh tiểu đường có thể gây liệt mặt không?

Viêm dây thần kinh mặt do tiểu đường thường xảy ra ở người trung niên và người già, có thể gặp ở những bệnh nhân tiểu đường có bệnh trình dài, hoặc ở những người có đường huyết tăng cao mà không được phát hiện hoặc kiểm soát tốt. Một số người thậm chí chỉ phát hiện mình bị tiểu đường khi đi khám vì liệt mặt. Do đó, khi người trung niên và người già đột ngột bị liệt dây thần kinh mặt, cần phải kiểm tra đường huyết thường quy để loại trừ khả năng bị tiểu đường.

Khi cơ thể ở trong tình trạng đường huyết cao, độ nhớt của máu tăng, các tiểu động mạch và mao mạch có thể bị tắc nghẽn. Khi các mạch máu nuôi dưỡng thần kinh bị tắc nghẽn, quá trình chuyển hóa dinh dưỡng của thần kinh bị ảnh hưởng, từ đó có thể làm tổn thương chức năng thần kinh liên quan. Các dây thần kinh sọ dễ bị ảnh hưởng bởi đường huyết cao hơn dây thần kinh mặt là dây thần kinh vận nhãn và dây thần kinh vận nhãn ngoài.

Một số nghiên cứu cho rằng, các rối loạn chuyển hóa như tăng lipid máu, tăng acid uric máu có tác dụng hiệp đồng gây bệnh trong các biến chứng thần kinh của bệnh tiểu đường, những yếu tố này đều có thể tham gia vào quá trình phát bệnh của viêm dây thần kinh mặt. Ngoài ra, đối với liệt mặt do đường huyết cao, nếu chỉ bị một bên, có thể là do thiếu máu thiếu oxy dây thần kinh mặt, nhưng nếu bị cả hai bên, thì có thể là một phần của bệnh đa dây thần kinh toàn thân, chứ không chỉ là tổn thương viêm của dây thần kinh mặt. Đối với trường hợp liệt cơ mặt dưới mắt một bên, nếp nhăn trán đối xứng, cần chú ý kiểm tra xem có kèm theo liệt chi và các tổn thương ở các bộ phận khác không, để phân biệt bệnh nhân tiểu đường bị bệnh thần kinh ngoại biên hay bệnh thần kinh trung ương. Việc kiểm soát đường huyết nhanh chóng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị liệt dây thần kinh mặt vô căn do tiểu đường.

28. Những loại khối u nào có thể gây liệt mặt?

Khoảng 5% các trường hợp liệt mặt là do khối u gây ra. Các khối u có thể gây liệt mặt bao gồm u dây thần kinh mặt, u thần kinh thính giác, u cuộn cảnh, u tuyến mang tai, u vùng xương thái dương, hoặc một số u tai giữa và tai ngoài. Một số ít trường hợp liệt mặt là do ung thư di căn, nhưng nếu chưa xác định được ung thư nguyên phát (như ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư phổi), thì việc chẩn đoán sẽ khó khăn. Do đó, đối với những trường hợp liệt mặt khởi phát chậm và tiến triển dần, cần phải làm các xét nghiệm chi tiết để loại trừ các bệnh toàn thân. Đối với những trường hợp có nghi ngờ dịch tích tụ trong hòm nhĩ, cần hút dịch ra để nuôi cấy tế bào ung thư.

Một số khối u lành tính xảy ra ở vùng đi của dây thần kinh mặt, như u dây thần kinh mặt, u thần kinh thính giác hoặc u màng não, có thể gây ra liệt mặt nhẹ tái phát trong nhiều năm. Do đó, đối với những trường hợp liệt dây thần kinh mặt khởi phát chậm, lúc có lúc không, tái phát nhiều lần, và tiến triển dần, cần chú ý thực hiện các xét nghiệm và chẩn đoán nhắm vào khối u. Chụp CT hoặc MRI thường dễ dàng phát hiện tổn thương sớm hơn.

Phần V: Cơ chế bệnh sinh

29. Dây thần kinh mặt có cấu tạo như thế nào?

Dây thần kinh mặt là một dây thần kinh hỗn hợp, bao gồm bốn loại sợi: sợi vận động nội tạng đặc biệt (thành phần phó giao cảm), sợi vận động nội tạng chung, sợi cảm giác nội tạng đặc biệt, và sợi cảm giác thân thể chung. Nó được chia thành một rễ vận động lớn và một rễ cảm giác nhỏ, cả hai đều xuất phát từ cầu não.

  • Rễ vận động: Các sợi thần kinh ly tâm đi qua ống tai trong đến phần xương chũm của tai giữa, phân bố đến cơ bàn đạp, bụng sau cơ nhị phúc, cơ trâm lưỡi và các cơ biểu cảm. Các sợi thần kinh mặt chi phối cơ vùng trán-chẩm xuất phát từ vỏ não hai bên, do đó khi tổn thương một bên ở phần trên nhân dây thần kinh mặt, vận động vùng trán thường không bị ảnh hưởng. Các sợi thần kinh chi phối các cơ biểu cảm ở phần giữa và dưới của mặt xuất phát từ vỏ não một bên, bắt chéo sang nhân dây thần kinh mặt đối diện, do đó khi tổn thương trên nhân, 2/3 dưới của mặt bên đối diện sẽ bị liệt.
  • Rễ cảm giác: Do nằm ở góc cầu tiểu não, giữa rễ vận động của dây thần kinh mặt và dây thần kinh tiền đình-ốc tai, nên còn được gọi là dây thần kinh trung gian. Một phần rễ cảm giác bắt đầu từ hạch gối, các sợi hướng tâm đi qua dây thần kinh trung gian vào bó đơn độc, các nhánh ngoại vi theo thần kinh thừng nhĩ đến lưỡi, quản lý vị giác 2/3 trước lưỡi. Phần rễ cảm giác chứa các sợi ly tâm phó giao cảm có nguồn gốc từ nhân nước bọt trên, sau khi ra khỏi thân não sẽ hợp vào dây thần kinh trung gian, hòa lẫn với các sợi thần kinh cảm giác trong hạch gối, đi cùng thần kinh thừng nhĩ và thần kinh lưỡi đến hạch dưới hàm, quản lý sự tiết của tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi. Thành phần phó giao cảm của thần kinh đá nhỏ đi vào hạch tai để chi phối sự tiết của tuyến mang tai. Thần kinh đá lớn sau khi tách ra khỏi hạch gối, đi qua hạch chân bướm khẩu cái rồi đi cùng nhánh hàm trên của dây thần kinh sinh ba để đến tuyến lệ.

30. Dây thần kinh mặt đi như thế nào?

Trên lâm sàng, dựa vào đường đi của dây thần kinh mặt và mối quan hệ giải phẫu của nó với xương thái dương, dây thần kinh mặt được chia thành 6 đoạn để nhận biết, trong đó đoạn 1 là đoạn nội sọ, đoạn 2-5 là đoạn trong xương, và đoạn 6 là đoạn ngoại biên.

  1. Đoạn 1 (Đoạn nội sọ): Dây thần kinh rời khỏi rìa dưới góc cầu tiểu não của thân não để đi vào lỗ tai trong.
  2. Đoạn 2 (Đoạn ống tai trong): Dây thần kinh đi vào lỗ tai trong, chạy dọc đáy ống tai trong cho đến trước khi vào ống thần kinh mặt. Dây thần kinh trung gian hợp vào dây thần kinh mặt ở đoạn này.
  3. Đoạn 3 (Đoạn mê đạo hay Đoạn trong xương đá): Từ ống thần kinh mặt, chạy giữa ốc tai và tiền đình, cuối cùng hình thành hạch gối của dây thần kinh mặt.
  4. Đoạn 4 (Đoạn ngang hay Đoạn hòm nhĩ): Dây thần kinh từ hạch gối, đi qua thành trong của hòm nhĩ ở cửa sổ tiền đình đến thành sau của hòm nhĩ. Đoạn này có ngách thần kinh mặt, là một đường vào quan trọng để thực hiện phẫu thuật giải áp dây thần kinh mặt. Ở phía trước hạch gối của đoạn ngang, dây thần kinh mặt phân ra các nhánh chính là thần kinh đá lớn, thần kinh đá ngoài và thần kinh đá nhỏ.
  5. Đoạn 5 (Đoạn đứng): Đoạn ngang của dây thần kinh mặt đi qua ụ tháp rồi quay xuống dưới, bắt đầu đoạn đứng. Đầu trên của nó nằm dưới đoạn sau của ống bán khuyên ngoài, tương đương với dưới mỏm ngắn của xương đe và mặt phẳng ụ tháp, và đi xuống đến lỗ trâm chũm. Các dây thần kinh chính phát ra từ đoạn đứng là thần kinh cơ bàn đạp, thần kinh thừng nhĩ, nhánh tai đến dây thần kinh phế vị, nhánh tai sau, nhánh nhị phúc, nhánh trâm lưỡi. Khi phẫu thuật tai, bác sĩ sẽ cố gắng tránh làm tổn thương dây thần kinh mặt ở đoạn đứng. Đoạn ②-⑤ được gọi chung là đoạn trong xương của dây thần kinh mặt.
  6. Đoạn 6 (Nhánh ngoại biên): Dây thần kinh mặt đi qua lỗ trâm chũm ra khỏi ống xương, sau đó vòng ra phía trước, tại tuyến mang tai chia thành hai nhánh trên và dưới, rồi lại chia thành các nhánh thái dương, gò má, má, bờ hàm dưới, và cổ, phân bố khắp các cơ biểu cảm ở mặt.

31. Các nhánh trong xương của dây thần kinh mặt là gì? Chức năng của chúng là gì?

Trong quá trình đi của dây thần kinh mặt, lỗ tai trong và lỗ trâm chũm được coi là các mốc để phân đoạn, chia thành đoạn nội sọ, đoạn trong xương và đoạn ngoài sọ. Đoạn nội sọ có đường đi ngắn và không có nhánh. Đoạn trong xương có đường đi tương đối dài, trong đó có nhiều dây thần kinh hợp vào và phân ra. Các nhánh chính của nó bao gồm thần kinh đá lớn, nhánh gối-nhĩ, thần kinh đá nhỏ, thần kinh cơ bàn đạp và thần kinh thừng nhĩ.

  • Thần kinh đá lớn: Kiểm soát sự tiết của tuyến lệ, khoang mũi, các tuyến nhỏ ở vòm miệng và cảm nhận vị giác.
  • Thần kinh đá nhỏ: Là các sợi tiền hạch của dây thần kinh thiệt hầu, sau khi kết hợp với nhánh gối-nhĩ sẽ đi vào hạch tai của dây thần kinh thiệt hầu, liên quan đến sự tiết của tuyến mang tai và quản lý thính giác.
  • Thần kinh cơ bàn đạp: Kiểm soát cơ bàn đạp, khi bị ảnh hưởng sẽ liên quan đến sự thay đổi chức năng thính giác và tai.
  • Thần kinh thừng nhĩ: Phân bố đến tuyến dưới lưỡi và tuyến dưới hàm, quản lý vị giác 2/3 trước lưỡi, và có nhánh nối với hạch tai, do đó cũng liên quan đến thính giác.

32. Các nhánh ngoại biên của dây thần kinh mặt được phân bố như thế nào?

Sau khi ra khỏi sọ qua ống xương, dây thần kinh mặt đi từ lỗ trâm chũm đến phần sâu của tuyến mang tai, tại đây nó phân nhánh và đi đến các vùng khác nhau của mặt để quản lý các cơ biểu cảm, được gọi là các nhánh ngoại biên. Trên lâm sàng, dựa vào hình thức phân nhánh, chúng được chia thành 4 cấp.

  • Nhánh cấp một: Là thân chính của dây thần kinh mặt, đoạn này dài khoảng 1-2 cm, đường kính khoảng 2-3 mm như que diêm, đi đến tuyến mang tai. Độ sâu của nó trong tuyến mang tai dao động từ 2 cm đến 5 cm, đây là một vị trí quan trọng để tìm thân chính dây thần kinh mặt trong phẫu thuật tuyến mang tai.
  • Nhánh cấp hai: Chủ yếu chia thành hai nhánh quan trọng là thân thái dương-mặt và thân cổ-mặt, giúp dây thần kinh đi lên đến đỉnh thái dương và xuống đến vùng hàm-cổ.
  • Nhánh cấp ba: Là sự phân hóa tiếp theo của nhánh cấp hai, hình thành các nhánh thái dương, nhánh gò má, nhánh má, nhánh bờ hàm dưới và nhánh cổ.
  • Nhánh cấp bốn: Là tất cả các nhánh sau nhánh cấp ba đi đến các cơ đích mà chúng chi phối. Nhánh cấp bốn có rất nhiều nhánh, sau khi bị tổn thương, khả năng tái tạo và phục hồi tương đối mạnh. Nếu nhánh cấp bốn của dây thần kinh mặt bị tổn thương, bệnh nhân thường sẽ không bị liệt mặt.

33. Chức năng chính của các nhánh thái dương, gò má, má, bờ hàm dưới và cổ của dây thần kinh mặt là gì?

Các nhánh cấp ba của dây thần kinh mặt được chia thành nhánh thái dương, nhánh gò má, nhánh má, nhánh bờ hàm dưới và nhánh cổ.

  • Nhánh thái dương: Chi phối cơ trán, cơ cau mày, cơ nhíu mày, phần trên cơ vòng mắt, cơ tai trước và cơ tai trên. Khi nhánh thái dương bị tổn thương, nếp nhăn trán bên đó sẽ biến mất, không thể cau mày, lông mày không thể nhướng lên.
  • Nhánh gò má: Chi phối phần dưới hốc mắt của cơ vòng mắt, phần mi dưới, cơ gò má lớn. Chức năng chính là quản lý việc nhắm mắt. Khi nhánh gò má bị tổn thương, mí mắt không thể nhắm hoặc nhắm không kín, hoặc mi dưới xệ xuống, xuất hiện dấu hiệu mắt thỏ (lagophthalmos).
  • Nhánh má: Chi phối cơ mũi, cơ vòng môi, cơ nâng cánh mũi môi trên, cơ vuông môi trên, cơ nâng góc miệng, cơ gò má nhỏ, cơ gò má lớn, cơ cười, cơ hạ góc miệng và cơ má. Khi nhánh má bị tổn thương, cánh mũi không thể mở đóng, lỗ mũi không thể mở to, rãnh mũi má mờ đi hoặc biến mất, chức năng môi trên bị hạn chế, khi chu môi, nhe răng thì rãnh mũi má lệch về bên lành, khi phồng má thì bị thoát khí.
  • Nhánh bờ hàm dưới: Chủ yếu chi phối cơ hạ góc miệng, cơ vuông môi dưới, cơ cằm. Khi bị tổn thương có thể xuất hiện méo miệng, chảy nước dãi, ăn cơm bị đọng lại giữa răng và má, uống nước bị chảy ra.
  • Nhánh cổ: Chi phối cơ bám da cổ. Khi bị tổn thương có thể ảnh hưởng đến việc nhai hoặc nói của bệnh nhân, xuất hiện tình trạng ăn không có lực hoặc nói không rõ.

34. Hạch gối là gì?

Hạch gối là phần phình to của thân chính dây thần kinh mặt tại chỗ gập (đầu gối) của nó, nằm trên mặt trên phần đá của xương thái dương, tại lỗ của ống thần kinh mặt ở chỗ ngoặt của đoạn mê đạo trong tai. Vị trí của hạch gối khá sâu, bên trong phần đá của xương thái dương, tại chỗ cong ở đầu ống thần kinh mặt, và nó chi phối nhiều khu vực chức năng. Cấu tạo của nó như sau: ① Thần kinh đá nông lớn (phó giao cảm) → hạch chân bướm khẩu cái → các sợi sau hạch chi phối sự tiết của tuyến lệ và niêm mạc mũi; ② Thần kinh cơ bàn đạp → chi phối cơ bàn đạp; ③ Thần kinh thừng nhĩ → chứa các sợi phó giao cảm và cảm giác → thần kinh lưỡi → hạch dưới hàm và lưỡi, chi phối sự tiết của tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi và vị giác 2/3 trước lưỡi; ④ Thần kinh tai sau → chi phối vận động của cơ chẩm, cơ tai sau và da loa tai; ⑤ Nhánh nhị phúc → chi phối bụng sau cơ nhị phúc; ⑥ Nhánh trâm lưỡi → chi phối cơ cùng tên; ⑦ Đám rối tuyến mang tai: bao gồm nhánh thái dương, nhánh gò má, nhánh má, nhánh bờ hàm dưới và nhánh cổ.

Do đó, sau khi hạch gối bị tổn thương, phạm vi ảnh hưởng rộng, triệu chứng xuất hiện nặng, nhiều dây thần kinh khác bị ảnh hưởng, điều trị phức tạp, thời gian phục hồi dài, và khả năng để lại di chứng lớn.

35. Những hạch phó giao cảm nào liên quan đến dây thần kinh mặt?

Có hai cặp hạch phó giao cảm liên quan đến dây thần kinh mặt.

  • Một cặp là hạch cánh bướm khẩu cái (hạch chân bướm khẩu cái), là hạch phó giao cảm lớn nhất trong cơ thể, nằm trong hố cánh bướm khẩu cái, dưới dây thần kinh hàm trên. Nó là một nốt nhỏ, phẳng, không đều, có ba rễ: rễ phó giao cảm đến từ thần kinh đá lớn của dây thần kinh mặt, rễ giao cảm đến từ đám rối giao cảm động mạch mặt, và rễ cảm giác đến từ thần kinh cánh bướm khẩu cái của dây thần kinh hàm trên. Từ hạch cánh bướm khẩu cái phát ra các nhánh, phân bố ở tuyến lệ, niêm mạc vòm miệng và các xoăn mũi, chi phối cảm giác chung của niêm mạc và sự tiết của các tuyến.
  • Cặp còn lại là hạch dưới hàm, là một hạch phó giao cảm hình bầu dục, nằm giữa tuyến dưới hàm và dây thần kinh lưỡi, có ba rễ: rễ phó giao cảm đến từ thần kinh thừng nhĩ, đi qua dây thần kinh lưỡi để đến hạch này; rễ giao cảm đến từ đám rối giao cảm động mạch mặt; và rễ cảm giác đến từ dây thần kinh lưỡi. Nó phân bố ở tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi, quản lý sự tiết của các tuyến và cảm giác chung.

36. Dây thần kinh trung gian là gì, nó có thuộc dây thần kinh mặt không?

Dây thần kinh trung gian bao gồm các dây thần kinh cảm giác và phó giao cảm. Cảm giác sâu của các cơ do dây thần kinh mặt chi phối đều được truyền qua dây thần kinh trung gian đến dây thần kinh sinh ba. Cảm giác đau, nhiệt và xúc giác từ ống tai ngoài, màng nhĩ, mặt ngoài loa tai, cũng như vùng sau tai và mỏm chũm, cũng được dẫn truyền bởi dây thần kinh trung gian. Dây thần kinh trung gian còn quản lý các sợi hướng tâm của vị giác 2/3 trước lưỡi, cảm giác của khoang mũi, vòm miệng mềm và amidan, các sợi cảm giác sâu của cơ mặt, và các sợi phó giao cảm chi phối sự tiết của tuyến dưới lưỡi, tuyến dưới hàm và tuyến lệ.

Dây thần kinh trung gian là rễ cảm giác của dây thần kinh mặt. Về chức năng và đường đi, nó khác với các sợi vận động của dây thần kinh mặt, nhưng sau khi vào ống tai trong, rễ cảm giác và rễ vận động của dây thần kinh mặt hợp thành một dây thần kinh duy nhất. Do đó, dây thần kinh trung gian được quy chung vào dây thần kinh mặt.

37. Liệt mặt hai bên, liệt dây thần kinh mặt tái phát có gì khác so với liệt Bell?

Các trường hợp liệt mặt đặc biệt bao gồm: liệt đồng thời hai bên, liệt tái phát hai bên, liệt xen kẽ hai bên, liệt tái phát một bên, v.v. Các loại liệt dây thần kinh mặt đặc biệt này có sự khác biệt về giới tính, tuổi tác, tần suất mắc bệnh.

  • Liệt dây thần kinh mặt hai bên có xu hướng xảy ra ở nam giới nhiều hơn, đặc biệt là trường hợp liệt Bell đồng thời hai bên.
  • Liệt mặt tái phát một bên có xu hướng xảy ra ở nữ giới nhiều hơn.
  • Tuổi mắc liệt Bell hai bên phân bố tương tự như liệt Bell một bên. Liệt Bell tái phát một bên thường gặp hơn ở người trẻ.

Bệnh nhân liệt mặt tái phát nhiều lần thường kèm theo những thay đổi về xương ở mức độ dây thần kinh mặt, thoái hóa cơ hoặc tăng sinh mô hạt, điều này có thể liên quan đến việc liệt mặt tái phát. Liệt mặt thể đặc biệt có thể liên quan đến nhiều yếu tố như bất thường cấu trúc bẩm sinh của bệnh nhân, yếu tố nội tiết, nhiễm virus, yếu tố miễn dịch, và những thay đổi mất myelin của thần kinh. Cần phải phân tích cụ thể từng trường hợp, hoàn thiện các xét nghiệm, sau đó mới xác định phác đồ điều trị.

38. Các cơ biểu cảm trên mặt được phân bố như thế nào?

Sự khác biệt lớn nhất giữa mặt người và mặt động vật là con người có các hoạt động biểu cảm phong phú. Cơ mặt của con người phát triển hơn động vật, điều này liên quan đến sự tiến hóa cao độ của vỏ não người. Các cơ tham gia hình thành biểu cảm trên mặt được gọi là cơ biểu cảm, nằm trong lớp mạc nông hoặc mô dưới da, là các cơ da dẹt và mỏng. Chúng có vị trí nông, đa số bắt nguồn từ xương hoặc mạc của đầu mặt, và bám vào da hoặc mô dưới da của mặt.

Các cơ biểu cảm chủ yếu phân bố xung quanh các khe hở trên mặt, như khe mắt, khe miệng và lỗ mũi, có thể được chia thành hai loại là cơ vòng và cơ tỏa tia, có tác dụng đóng hoặc mở các khe hở nói trên. Sự co của các cơ này kéo theo da mặt, tạo ra các biểu cảm như vui, giận, buồn, v.v. Cơ mặt của con người có sự khác biệt rõ rệt giữa các cá nhân, do đó mỗi người đều có biểu cảm độc đáo của riêng mình. Các cơ quanh tai của con người nói chung đã thoái hóa rõ rệt. Cơ bám da cổ ở cổ, do tham gia vào vận động quanh miệng, cũng được xếp vào nhóm cơ mặt để thảo luận. Hiện nay, để tiện cho việc mô tả, các cơ mặt thường được chia thành bảy nhóm: cơ da đầu, cơ quanh mắt, cơ mũi, cơ quanh miệng, cơ má, cơ quanh tai, và cơ bám da cổ.

39. Chức năng của các cơ biểu cảm là gì? Chúng được dây thần kinh mặt chi phối như thế nào?

  • Vùng trán: Cơ chẩm-trán co lại tạo ra nếp nhăn trán, tham gia vào các động tác như nhướng mày. Cơ thái dương có hình quạt dẹt, chia thành ba phần trước, giữa, sau, chức năng chính là nâng xương hàm dưới, cung cấp lực căng hướng lên cho môi để chống lại trọng lực và giữ cho môi khép lại. Cả hai đều do nhánh thái dương của dây thần kinh mặt chi phối.
  • Quanh khe mắt: Cơ vòng mắt, bao gồm: phần mi (hình vòng, bao quanh khe mắt), phần ổ mắt (hình vòng, bao quanh hốc mắt), phần lệ (dạng bó, ở vùng túi lệ). Tác dụng của nó là: chớp mắt, nhắm mắt, làm rộng túi lệ để nước mắt lưu thông. Dây thần kinh chi phối là: nhánh thái dương, nhánh gò má của dây thần kinh mặt.
  • Quanh lỗ mũi: Cơ mũi, bao gồm: phần ngang ở sống mũi, phần cánh ở sau cánh mũi. Tác dụng của nó là: mở to, thu nhỏ lỗ mũi. Dây thần kinh chi phối là nhánh má của dây thần kinh mặt.
  • Quanh khe miệng – lớp nông: Dây thần kinh chi phối là nhánh má, nhánh gò má, nhánh bờ hàm dưới của dây thần kinh mặt. Trong đó, cơ vòng môi bao quanh khe miệng, có tác dụng đóng miệng; cơ nâng môi trên có tác dụng nâng môi trên, mở to lỗ mũi. Cơ gò má có tác dụng kéo khóe miệng ra ngoài và lên trên. Cơ cười có tác dụng kéo khóe miệng ra ngoài. Cơ hạ góc miệng có tác dụng kéo khóe miệng xuống dưới.
  • Quanh khe miệng – lớp giữa: Dây thần kinh chi phối là nhánh má của dây thần kinh mặt, chi phối cơ nâng góc miệng có tác dụng nâng khóe miệng, cơ hạ môi dưới có tác dụng hạ môi dưới.
  • Quanh khe miệng – lớp sâu: Do nhánh má, nhánh bờ hàm dưới của dây thần kinh mặt chi phối. Cơ má, cơ cằm có tác dụng làm cho môi và má áp sát vào lợi, tham gia vào việc nhai và bú, nâng da cằm, đưa môi dưới ra trước.
  • Ngoài ra còn có cơ bám da cổ bám vào bờ dưới xương hàm dưới và vách ngăn hàm dưới, kết hợp với các cơ mặt xung quanh môi dưới, đôi khi có thể chồng lên và che phủ sang bên đối diện, do nhánh cổ chi phối, tham gia vào một phần hoạt động của môi dưới và lưỡi, có thể ảnh hưởng đến các động tác như phát âm và nhai.

Phần VI: Chẩn đoán

40. Làm thế nào để phát hiện tổn thương dây thần kinh mặt thông qua sự thay đổi vận động của các cơ biểu cảm?

Đầu tiên, quan sát từ trên xuống dưới xem hai bên mặt có đối xứng không, bao gồm nếp nhăn trán, khe mắt, rãnh mũi má và khóe miệng có bằng nhau không, có teo một bên mặt, co thắt hoặc co rút cơ mặt không. Sau đó, yêu cầu bệnh nhân thực hiện các động tác chủ ý như nhăn trán, cau mày, nhắm mắt, nhe răng, phồng má và huýt sáo.

  • Liệt mặt do tổn thương dây thần kinh ngoại biên một bên: Biểu hiện là nếp nhăn trán bên bệnh biến mất, khe mắt mở to hơn, rãnh mũi má mờ đi hoặc biến mất, khóe miệng thấp xuống hoặc méo về bên lành, không thể nhăn trán và nhắm mắt, khi nhe răng, phồng má và huýt sáo thì xuất hiện liệt cơ mặt. Trong liệt mặt ngoại biên, cả vận động chủ ý và vận động cảm xúc đều bị liệt.
  • Liệt mặt trung ương do tổn thương bó vỏ não-tủy một bên: Chủ yếu biểu hiện là liệt nửa mặt dưới mắt, tức là rãnh mũi má mờ đi, khóe miệng thấp xuống, khi nhe răng, phồng má và huýt sáo thì xuất hiện liệt cơ, nhưng phần trên mắt, việc nhăn trán, nhắm mắt vẫn bình thường. Trong liệt mặt trung ương do tổn thương bó vỏ não-tủy, liệt cơ chỉ xuất hiện khi vận động chủ ý, còn khi vận động cảm xúc như khóc hoặc cười, sự co cơ không chủ ý vẫn còn.
  • Liệt mặt cảm xúc do tổn thương hệ ngoại tháp (hạch nền, đồi thị, vùng dưới đồi): Biểu hiện là liệt cơ mặt khi có vận động cảm xúc như cười hoặc khóc, nhưng khi vận động chủ ý, cơ mặt vẫn có thể co lại.

Đối với bệnh nhân mất ý thức và không hợp tác, có thể quan sát các động tác biểu cảm trên mặt, gây kích thích đau như ấn vào hốc mắt để làm co cơ mặt, so sánh xem hai bên có đối xứng không để phán đoán có bị liệt mặt hay không. Đối với bệnh nhân hôn mê hai mắt nhắm, cũng có thể dùng phương pháp banh mí mắt ra rồi đột ngột thả lỏng để quan sát. Nếu có liệt mặt, hai mí mắt sẽ không nhắm đồng bộ, mí mắt trên bên bệnh sẽ nhắm xuống chậm hơn và nhắm không hoàn toàn.

41. Phân biệt liệt dây thần kinh mặt trung ương và ngoại biên như thế nào?

Ở bệnh nhân liệt dây thần kinh mặt trung ương, các cơ ở phần trên của mặt không bị liệt, các động tác nhắm mắt, nhướng mày, cau mày đều bình thường. Độ sâu của nếp nhăn trán, độ cao của lông mày và kích thước khe mắt đều không có sự khác biệt so với bên đối diện. Đây là điểm mấu chốt để phân biệt với liệt thần kinh ngoại biên.

Đối với những trường hợp liệt mặt rõ rệt, việc phân biệt giữa trung ương và ngoại biên dễ dàng, nhưng với những trường hợp triệu chứng rất nhẹ thì khó phân biệt. Có thể dựa vào các yếu tố sau để phân biệt:
Vận động biểu cảm: Người bị liệt trung ương khi khóc cười không biểu hiện liệt, trong khi người bị liệt ngoại biên thì tình trạng liệt càng rõ hơn.
Phản xạ lòng bàn tay-cằm: Ở liệt trung ương có thể có hoặc tăng cường, ở liệt ngoại biên không có hoặc giảm yếu, nhưng phương pháp này không đáng tin cậy lắm.
Kết hợp các dấu hiệu khác để cùng phán đoán, phương pháp này đáng tin cậy nhất. Ví dụ, khi khó xác định liệt mặt thuộc trung ương hay ngoại biên, nếu bệnh nhân kèm theo liệt nhẹ một bên chi trên và dưới, và bên chi bị liệt không cùng bên với bên mặt bị liệt, thì liệt dây thần kinh mặt đó là liệt ngoại biên; nếu bên chi bị liệt cùng bên với bên mặt bị liệt, thì đó là liệt mặt trung ương. Liệt mặt trung ương thường kèm theo liệt chi và xảy ra đồng thời với liệt chi, trong khi liệt mặt ngoại biên nếu chỉ là tổn thương đơn thuần ở dây thần kinh mặt thì sẽ không có liệt chi, mà chỉ bị ảnh hưởng rõ rệt ở vùng phân bố của dây thần kinh mặt.

42. Ý nghĩa của việc phân biệt liệt mặt trung ương và ngoại biên là gì?

Ý nghĩa của việc phân biệt liệt mặt trung ương và ngoại biên nằm ở chỗ vị trí tổn thương của chúng khác nhau. Việc phân biệt triệu chứng quyết định trực tiếp đến các quyết định điều trị khác nhau và tiên lượng của bệnh nhân. Do đó, việc chẩn đoán phân biệt giữa liệt mặt trung ương và ngoại biên là vô cùng quan trọng.

Đối với những trường hợp liệt mặt rõ rệt, việc phân biệt dễ dàng. Nhưng đối với những bệnh nhân có triệu chứng nhẹ, hoặc là thứ phát sau các bệnh khác thì việc phân biệt khó khăn. Có thể dựa vào các yếu tố sau:
Xem vận động biểu cảm của bệnh nhân: Người bị liệt trung ương khi khóc cười không có biểu hiện liệt, người bị liệt ngoại biên biểu hiện rõ hơn.
Kiểm tra phản xạ lòng bàn tay-cằm: Ở liệt trung ương có thể thấy hoặc biểu hiện tăng cường, ở liệt ngoại biên thường không xuất hiện hoặc biểu hiện rất yếu, nhưng phương pháp này không hoàn toàn đáng tin cậy vì biểu hiện không ổn định, có thể dùng kết hợp với các phương pháp khác để tham khảo.
Kết hợp với các dấu hiệu khác (như vận động chớp mắt, dấu hiệu lông mi, hiện tượng rung mí mắt, dấu hiệu Hoffmann, dấu hiệu Babinski, v.v.) hoặc các xét nghiệm (như CT, MRI, điện cơ đồ) để phán đoán, phương pháp này chính xác nhất.

Trên lâm sàng, đặc biệt đối với một số trường hợp liệt mặt phức tạp, cần phải chẩn đoán rõ ràng trước khi lập phác đồ điều trị. Ví dụ, liệt mặt trung ương kèm theo bệnh mạch máu não thì chủ yếu điều trị theo phác đồ bệnh mạch máu não. Đối với liệt mặt ngoại biên do viêm dây thần kinh mặt thì chủ yếu điều trị theo phác đồ bệnh thần kinh ngoại biên. Nếu liệt mặt do khối u, cần xác định vị trí cụ thể của khối u để điều trị nguyên nhân. Đối với những bệnh nhân đã từng bị liệt mặt, khi tái phát cũng cần phải xác định rõ nguyên nhân, không nên chưa phân biệt đã điều trị ngay theo phác đồ lần trước. Đặc biệt đối với những người có bệnh nền, tình hình phức tạp, hoặc liệt mặt tái phát, liệt mặt hai bên liên tiếp, càng cần chú ý hoàn thiện các xét nghiệm liên quan, xác định rõ nguyên nhân mới có thể nắm bắt được thời cơ điều trị và xác định phác đồ điều trị đúng đắn.

43. Bác sĩ sử dụng những phương pháp khám thực thể nào để phán đoán liệt dây thần kinh mặt mức độ nhẹ?

Khi liệt mặt rõ rệt, việc chẩn đoán không khó, nhưng đôi khi không điển hình. Việc phát hiện và chẩn đoán sớm liệt dây thần kinh mặt mức độ nhẹ là cực kỳ quan trọng. Đối với những trường hợp liệt mặt giai đoạn sớm khó phán đoán, các phương pháp kiểm tra thường dùng là:

  • (1) Dấu hiệu lông mi: Yêu cầu bệnh nhân nhắm mắt thật chặt. Người bình thường khi nhắm mắt chặt, lông mi thường bị vùi vào giữa mí mắt trên và dưới; khi bị liệt dây thần kinh mặt, lông mi sẽ lộ ra ngoài. Đặc biệt trong trường hợp liệt nhẹ, khi nhắm chặt hai mắt, lúc đầu hiện tượng lông mi không đối xứng không rõ ràng, nhưng sau một thời gian rất ngắn, lông mi bên liệt nhẹ sẽ từ từ lộ ra, gọi là dấu hiệu lông mi dương tính.
  • (2) Hiện tượng rung mí mắt: Yêu cầu bệnh nhân nhắm chặt hai mắt, người khám dùng sức banh mí mắt trên đang nhắm của bệnh nhân ra. Lúc này, cảm thấy mí mắt trên một bên có hiện tượng rung co cơ nhỏ, bên kia thì không, cho thấy bên có rung co cơ bị liệt dây thần kinh mặt mức độ nhẹ, thường gặp hơn ở liệt mặt ngoại biên.
  • (3) Vận động chớp mắt: Vận động chớp mắt hai bên không đối xứng, hiện tượng này có ý nghĩa lớn. Nếu yêu cầu bệnh nhân thực hiện động tác chớp mắt, bên liệt nhẹ sẽ chớp chậm và không hoàn toàn.
  • (4) Dấu hiệu miệng hình trứng xiên: Yêu cầu bệnh nhân há miệng to. Khi bị liệt dây thần kinh mặt mức độ nhẹ, khóe miệng bên bệnh sẽ xệ xuống, tạo thành hình miệng trứng xiên. Điểm khác biệt so với miệng hình trứng xiên trong liệt nhánh vận động của dây thần kinh sinh ba là không có sự lệch của hàm dưới. Trong liệt mặt trung ương, hiện tượng này nhẹ hơn.

44. Các triệu chứng chung của liệt mặt ngoại biên là gì?

Khi xảy ra liệt dây thần kinh mặt ngoại biên, tất cả các cơ mặt cùng bên với tổn thương đều bị liệt. Bệnh nhân bị hạn chế nhướng mày, nếp nhăn trán mờ đi hoặc biến mất, lông mày thấp hơn bên lành. Do liệt cơ vòng mắt, khe mắt mở to hơn, khi nhắm mắt, mí mắt không thể khép hoàn toàn, nhãn cầu cuộn lên trên để lộ củng mạc, xuất hiện dấu hiệu Bell, có thể chảy nước mắt. Cơ má bên bệnh bị giãn, rãnh mũi má mờ đi. Khi cười to hoặc nhe răng, khóe miệng bị kéo về bên lành, miệng há ra có hình trứng xiên. Uống nước bị chảy ra, thức ăn đọng lại giữa má và lợi, đến mức bệnh nhân phải dùng ngón tay để lấy thức ăn ra. Không thể chu môi, phồng má bị thoát khí, nói không rõ. Trẻ sơ sinh bị liệt dây thần kinh mặt sẽ bị hạn chế khi bú.

45. Khi bị liệt dây thần kinh mặt ngoại biên, có thể thấy những dấu hiệu đặc biệt nào ở mặt bên bệnh?

  • (1) Dấu hiệu Bell: Là một dấu hiệu quan trọng của liệt dây thần kinh mặt ngoại biên, biểu hiện là khe mắt mở to, khi nhắm mắt mí mắt không thể khép hoàn toàn, nhãn cầu cuộn lên trên để lộ củng mạc.
  • (2) Dấu hiệu nhãn cầu: Nhãn cầu bên liệt không cùng một mức với bên lành, mà bị dịch chuyển lên trên, mức độ của đồng tử cũng cao hơn bên lành.
  • (3) Dấu hiệu cơ bám da cổ: Khi bệnh nhân gắng sức cúi đầu về phía trước, người khám đặt một lực cản lên trán bệnh nhân, cơ bám da cổ bên lành sẽ co lại, bên liệt không co.
  • (4) Lưỡi lệch: Vị trí của lưỡi có liên quan đến vị trí không ngay ngắn của môi, đa phần là do cảm giác sai lầm. Sau khi điều chỉnh lại khóe miệng một cách nhân tạo, tình trạng lưỡi lệch có thể biến mất.
  • (5) Tăng nhạy cảm với âm thanh: Tổn thương dây thần kinh mặt ở phía trên nhánh cơ bàn đạp có thể kèm theo tăng nhạy cảm với âm thanh.
  • (6) Phản xạ: Phản xạ cơ vòng mắt, phản xạ cơ vòng môi, phản xạ chớp mắt do giật mình, phản xạ thị giác bên liệt đều giảm.
  • (7) Rối loạn vị giác: Trong liệt dây thần kinh mặt ngoại biên, có thể biểu hiện là rối loạn vị giác ở 2/3 trước lưỡi bên bệnh, một số ít bệnh nhân có thể xuất hiện loạn vị giác.
  • (8) Rối loạn tiết nước mắt.
  • (9) Rối loạn tiết nước bọt.

46. Các thử nghiệm được sử dụng trong kiểm tra liệt dây thần kinh mặt là gì?

Các thử nghiệm thường được sử dụng là: thử nghiệm tiết nước mắt, thử nghiệm chảy nước mắt bằng sợi bông, thử nghiệm phản xạ cơ bàn đạp và thử nghiệm vị giác.

  • Thử nghiệm tiết nước mắt: Trong một khoảng thời gian nhất định, đặt một đầu của một dải giấy lọc tiêu chuẩn vào túi kết mạc ở 1/3 trong của mí mắt dưới của bệnh nhân, quan sát độ dài của dải giấy lọc bị thấm ướt để đo lượng nước mắt được tạo ra. Trong liệt mặt, thử nghiệm này chủ yếu được sử dụng để phán đoán xem bên bệnh có tiết quá nhiều nước mắt hay không.
  • Thử nghiệm chảy nước mắt bằng sợi bông: Dùng một sợi bông cotton dài 10cm, được khử trùng và làm khô bằng cồn 70% và ether 70% trong 24 giờ. Nhuộm một đầu sợi bông dài 3cm bằng dung dịch fluorescein hydro hóa 10%, đặt vào phía ngoài mí mắt trên, dưới tuyến lệ, sau khi đặt vào thì nhắm mắt trong 60 giây rồi lấy ra, đo ngay độ dài được nhuộm màu fluorescein bị thấm ướt. Lưu lượng tuyến lệ bình thường là 60%-140%, dưới 60% là suy giảm chức năng, trên 140% là tăng cường chức năng. Ưu điểm của phương pháp này là: có thể đo được lượng nước mắt rất nhỏ, chính xác hơn thử nghiệm tiết nước mắt.
  • Thử nghiệm phản xạ cơ bàn đạp: Dùng máy đo trở kháng âm thanh để kiểm tra. Phản xạ bình thường là dương tính, khi tổn thương ở gần nhánh cơ bàn đạp thì là âm tính. Dây thần kinh mặt là dây thần kinh ly tâm của phản xạ nghe-mặt, khi bị liệt mặt, việc xác định ngưỡng phản xạ cơ bàn đạp giúp phán đoán vị trí tổn thương thần kinh, cung cấp tài liệu tham khảo để phán đoán tiên lượng tổn thương dây thần kinh mặt.
  • Thử nghiệm vị giác: Dùng máy đo vị giác điện tử với các dung dịch chua, ngọt, mặn để kiểm tra vị giác 2/3 trước lưỡi. Dựa vào sự thay đổi và so sánh ngưỡng vị giác hai bên để phán đoán mức độ tổn thương dây thần kinh mặt, nhưng thử nghiệm này độ tin cậy kém, chỉ có thể dùng để tham khảo.

47. Những bệnh nào có thể dẫn đến liệt dây thần kinh mặt ngoại biên?

Liệt dây thần kinh mặt có thể là do tổn thương đơn độc của dây thần kinh mặt, hoặc cùng lúc với các dây thần kinh sọ và các cấu trúc thần kinh khác. Nguyên nhân phổ biến nhất của tổn thương nhánh ngoại biên dây thần kinh mặt là viêm dây thần kinh mặt do nhiễm virus, tiếp theo là các nguyên nhân từ tai, chấn thương, khối u, tự miễn, bẩm sinh, v.v.

48. Triệu chứng tổn thương các vị trí khác nhau của dây thần kinh mặt có gì khác nhau?

Liệt dây thần kinh mặt ngoại biên có thể có các biểu hiện triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào vị trí tổn thương. Hiểu được sự khác biệt giữa các triệu chứng này giúp xác định vị trí tổn thương dây thần kinh mặt, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phán đoán tiên lượng.

  • (1) Tổn thương ở lỗ trâm chũm hoặc phần xa sau khi nhánh thừng nhĩ phân ra: Biểu hiện là liệt các cơ biểu cảm mặt bên bệnh, nhưng không có rối loạn vị giác 2/3 trước lưỡi.
  • (2) Tổn thương trong ống xương của dây thần kinh mặt giữa nhánh thừng nhĩ và nhánh cơ bàn đạp: Biểu hiện là liệt cơ mặt, mất vị giác 2/3 trước lưỡi, rối loạn tiết nước bọt.
  • (3) Tổn thương trong ống xương của dây thần kinh mặt giữa nhánh cơ bàn đạp và hạch gối: Xuất hiện liệt cơ mặt, mất vị giác 2/3 trước lưỡi, rối loạn chức năng tiết nước bọt, tăng nhạy cảm với âm thanh.
  • (4) Tổn thương tại hạch gối: Liệt cơ mặt, mất vị giác 2/3 trước lưỡi, ức chế tiết nước bọt, ức chế tiết nước mắt, rối loạn thính giác, đau ở màng nhĩ, loa tai, vùng mỏm chũm. Do nhiễm virus zona, có thể thấy mụn rộp xuất hiện ở màng nhĩ, ống tai ngoài, mặt ngoài loa tai và giữa loa tai với mỏm chũm.
  • (5) Tổn thương giữa cầu não và hạch gối: Tại đây, dây thần kinh mặt đi cùng với dây thần kinh thính giác, khi có tổn thương, ngoài liệt mặt ngoại biên, còn có ù tai, giảm thính lực và chóng mặt; nếu dây thần kinh trung gian cũng bị tổn thương, có thể có giảm vị giác 2/3 trước lưỡi và giảm tiết nước bọt, nước mắt. Tổn thương ở góc cầu tiểu não còn có thể ảnh hưởng đến dây thần kinh sinh ba, cuống tiểu não và tiểu não, gây ra đau hoặc rối loạn cảm giác cùng bên mặt, mất điều hòa vận động chi và rung giật nhãn cầu.
  • (6) Tổn thương tại nhân hoặc dưới nhân ở cầu não: Liệt mặt ngoại biên xuất hiện thường kèm theo các biểu hiện tổn thương cấu trúc lân cận, trong khi chức năng cảm giác và tiết tuyến thường được bảo tồn. Do nhân dây thần kinh mặt và các sợi phát ra từ nó có mối quan hệ mật thiết với nhân dây thần kinh vận nhãn ngoài, tổn thương ở cầu não thường gây liệt đồng thời dây thần kinh mặt và dây thần kinh vận nhãn ngoài cùng bên, và thường do tổn thương bó vỏ não-tủy mà gây ra liệt nửa người đối diện. Trong các bệnh thoái hóa nhân dây thần kinh mặt, như liệt hành tủy tiến triển và bệnh rỗng hành tủy, các cơ do dây thần kinh mặt chi phối có thể xuất hiện rung giật bó cơ.

49. Các đặc điểm của liệt mặt trung ương ở các vị trí khác nhau là gì?

Đặc điểm của liệt cơ mặt do neuron vận động trên một bên là liệt các cơ xung quanh khóe miệng, dưới mắt ở một nửa mặt. Khi các sợi của bó tháp một bên bị tổn thương, vận động chủ ý của 1/2-2/3 dưới cơ mặt đối diện biến mất, nhưng vận động cảm xúc, như cười, khóc tự phát hoặc các biểu hiện cảm xúc khác, vẫn còn sự co cơ không chủ ý.

Khi một phần nhỏ vỏ não ở hồi trán lên chi phối cơ mặt bị tổn thương, sẽ xuất hiện liệt trên nhân đơn thuần. Do mối liên hệ giữa dây thần kinh mặt và hệ ngoại tháp không bị phá hủy, mặc dù có liệt trên nhân, cơ mặt vẫn có thể có các vận động không chủ ý, xuất hiện co giật rung giật hoặc co thắt cơ mặt.

Khi tổn thương nằm ở bán cầu đại não mà không ảnh hưởng đến các sợi từ đồi thị đến nhân dây thần kinh mặt, bệnh nhân khi cười lớn không bị liệt. Nhưng nếu đồng thời ảnh hưởng đến liệt trên nhân từ đồi thị, thì khi cười cũng biểu hiện liệt. Khi có tổn thương ở đồi thị, vận động chủ ý có thể được bảo tồn, nhưng các động tác biểu cảm “vô thức” ở bên đối diện bị mất. Khi tác động thần kinh từ thể nhạt đến cơ mặt bị gián đoạn, cơ mặt cứng đờ, khi có xung động cảm xúc, chỉ có thể xuất hiện co cơ nhẹ, gọi là “mặt nạ” của bệnh Parkinson.

Liệt dây thần kinh mặt do neuron vận động trên gây ra bởi các tổn thương ở bó tháp, đồi thị, thể nhạt, v.v., đều không có teo cơ, không có rung giật bó cơ, không có phản ứng thoái hóa điện, nhưng chúng đều kèm theo các triệu chứng tổn thương tương ứng của bó tháp, đồi thị, hạch nền, có thể dựa vào đặc điểm triệu chứng của chúng để nhận biết.

50. Các dấu hiệu dùng để kiểm tra liệt mặt trung ương là gì?

Khi liệt dây thần kinh mặt trung ương phát bệnh, các cơ ở phần trên của mặt không bị liệt, các động tác nhắm mắt, nhướng mày, cau mày đều bình thường, nếp nhăn trán hai bên đối xứng, độ sâu bằng nhau, độ cao của lông mày và kích thước khe mắt đều không khác biệt so với bên đối diện. Các cơ ở phần dưới mắt bị liệt, bệnh nhân ở trạng thái tĩnh, rãnh mũi má bên đó mờ đi, khóe miệng xệ xuống, khi nhe răng, khóe miệng méo về bên lành.

Trong liệt dây thần kinh mặt trung ương, sự bất đối xứng của mặt không rõ ràng, co thắt cơ mặt rất hiếm gặp. Liệt mặt trung ương thường kèm theo các dấu hiệu khác của liệt nửa người, như phản xạ gân xương tăng, phản xạ lòng bàn tay-cằm, dấu hiệu Hoffmann, dấu hiệu Babinski và các dấu hiệu khác của hệ thần kinh trung ương có thay đổi dương tính.

51. Đánh giá sức cơ trong liệt mặt như thế nào?

Các cơ mặt đều là các cơ nhỏ, sức cơ không mạnh, thuộc nhóm cơ biểu cảm, không gây ra vận động khớp, khó có thể tạo ra lực hỗ trợ hoặc kháng cự cho các động tác để đạt được sức cơ tối đa của cơ biểu cảm mặt. Thông thường, sức cơ có thể được chia thành 6 bậc.

  • Bậc 0: Tương đương không có sức cơ. Khi bệnh nhân cố gắng co các cơ biểu cảm mặt, bác sĩ không thể quan sát thấy sự co cơ bằng mắt thường, sờ vào cơ cũng không thấy co. Bên bệnh bị bên lành kéo, gây ra sự bất đối xứng.
  • Bậc 1: Tương đương 10% sức cơ bình thường. Khi yêu cầu bệnh nhân vận động chủ động như cau mày, chỉ có thể đạt được dưới 1/3 so với bên lành, hoặc chỉ tạo ra những cử động cơ rất nhẹ.
  • Bậc 2: Tương đương 25% sức cơ bình thường. Mặc dù khó khăn khi thực hiện các vận động của cơ biểu cảm mặt, nhưng vận động chủ động vẫn có thể tạo ra động tác, ví dụ như động tác cau mày có thể đạt được hơn 1/2 so với bên lành.
  • Bậc 3: Tương đương 50% sức cơ bình thường. Các cơ biểu cảm mặt có thể thực hiện vận động tự chủ, nhưng có sự chênh lệch so với bên lành, ví dụ như khi cau mày, nếp nhăn mày ít hơn hoặc nếp nhăn trán cũng ít hơn bên lành.
  • Bậc 4: Tương đương 75% sức cơ bình thường. Các cơ biểu cảm mặt có thể thực hiện các động tác tự chủ, các động tác cau mày, nhăn trán, nhắm mắt về cơ bản giống với bên lành.
  • Bậc 5: Tương đương sức cơ bình thường. Khi nhướng mày, nhắm mắt, cau mày, nhe răng, độ sâu của rãnh mũi má hoàn toàn giống với bên lành.

52. Làm thế nào để phát hiện liệt mặt ở trẻ sơ sinh?

Việc kiểm tra dây thần kinh mặt ở trẻ sơ sinh chủ yếu được thực hiện khi trẻ đang ngủ hoặc yên tĩnh, quan sát xem hai bên mặt có đối xứng không trong các vận động chủ ý và vận động biểu cảm (như khóc hoặc cười). Để kiểm tra vị giác 2/3 trước lưỡi, có thể cho trẻ uống các dung dịch ngọt (như glucose 5%) hoặc đắng (dung dịch quinine loãng), và quan sát phản ứng của trẻ. Trẻ bình thường khi gặp dung dịch đắng sẽ cau mày và từ chối hoặc khóc, lúc đó quan sát xem hai bên mặt có đối xứng không. Đối với trẻ lớn hơn, việc kiểm tra vận động và vị giác có thể thực hiện giống như người lớn.

53. Phân cấp chức năng tổn thương dây thần kinh mặt được thực hiện như thế nào?

Sunderland đã phân loại tổn thương dây thần kinh mặt thành năm cấp độ từ nhẹ đến nặng dựa trên mức độ nghiêm trọng của tổn thương sợi thần kinh ngoại biên. Cấp I là tổn thương nhẹ nhất, cấp V là nặng nhất.

  • Tổn thương cấp I: Cấu trúc dây thần kinh mặt còn nguyên vẹn, cấu trúc các lớp sợi thần kinh không bị tổn thương. Tổn thương chỉ do áp lực trong thần kinh tăng cao làm cản trở dòng chảy của bào tương trục, do thần kinh bị chèn ép không thể dẫn truyền xung động thần kinh, dẫn đến mất chức năng thần kinh và gây liệt mặt. Trong trường hợp này, phần xa của thần kinh vẫn có phản ứng với kích thích điện. Khi áp lực tại vị trí chèn ép được giải tỏa, các biểu cảm trên mặt có thể phục hồi bình thường trong khoảng 3 tuần.
  • Tổn thương cấp II: Dây thần kinh mặt bị chèn ép liên tục không được giải tỏa, dẫn đến rách sợi trục, giảm số lượng sợi trục, thoái hóa sợi trục, nhưng ống nội mạc thần kinh vẫn còn nguyên vẹn. Trong trường hợp này, nếu áp lực được giải tỏa kịp thời, dây thần kinh mặt có thể bắt đầu phục hồi chức năng trong vòng 3 tuần đến 2 tháng. Nếu số lượng sợi trục thần kinh không giảm, thì dây thần kinh mặt có thể phục hồi hoàn toàn.
  • Tổn thương cấp III: Khi nội mạc thần kinh và sợi trục bị đứt, hình thành tổn thương đứt thần kinh. Phản ứng của thần kinh với kích thích điện giảm rõ rệt. Trong quá trình tái tạo thần kinh, các sợi trục tái tạo có thể đi vào ống thần kinh một cách không bình thường do phân chia hỗn hợp, dẫn đến phục hồi thần kinh chậm, không hoàn toàn và xuất hiện các di chứng như đồng vận. Bệnh nhân không thấy dấu hiệu phục hồi dây thần kinh mặt trong vòng 2-4 tháng, trong quá trình phục hồi sẽ kèm theo vận động liên hợp, và cuối cùng khó có thể phục hồi hoàn toàn.
  • Tổn thương cấp IV: Nặng hơn cấp III, thần kinh bị đứt ngang hoặc rách một phần, bao bó thần kinh và các bó thần kinh đều bị đứt. Có thể do hình thành sẹo làm giảm khả năng tái tạo thần kinh, chức năng dây thần kinh mặt mất hoàn toàn hơn. Nếu tổn thương dây thần kinh mặt quá nặng, có thể không xuất hiện các triệu chứng như đồng vận, co thắt cơ mặt và co rút.
  • Tổn thương cấp V: Toàn bộ dây thần kinh bị đứt hoàn toàn, tại vị trí tổn thương hình thành sẹo, không có sợi trục mới đi qua. Dây thần kinh mặt bị liệt hoàn toàn, không có bất kỳ vận động nào, điều trị bảo tồn không có khả năng phục hồi.

Tổn thương cấp I-III có thể do nhiễm virus, viêm tai giữa, khối u chèn ép hoặc chấn thương. Trong khi tổn thương cấp IV, V thường do chấn thương, phẫu thuật, các khối u phát triển nhanh. Một khi xác định có tổn thương dây thần kinh mặt cấp IV, V, cần phải phẫu thuật sửa chữa càng sớm càng tốt để giảm thiểu sự không chắc chắn của việc phục hồi tự nhiên.

54. Khi bị liệt mặt, lưỡi có bị méo không?

  • Trong liệt mặt trung ương, lưỡi thường có thể lệch về bên bệnh, tức là lệch về phía bên mặt bị liệt. Điều này là do các dây thần kinh vận động từ vỏ não đi xuống chi phối vận động của cơ lưỡi đối diện quyết định. Do đó, khi tổn thương hệ thần kinh trung ương đồng thời ảnh hưởng đến nhân dây thần kinh mặt và nhân dây thần kinh hạ thiệt trong sọ, có thể đồng thời xuất hiện triệu chứng lè lưỡi bị lệch.
  • Trong bệnh lý thần kinh ngoại biên đơn thuần của dây thần kinh mặt, khi lè lưỡi, vị trí của lưỡi thường ở giữa. Nhưng nếu neuron vận động dưới của dây thần kinh hạ thiệt một bên bị tổn thương, có thể dẫn đến liệt cơ lưỡi bên bệnh và xuất hiện triệu chứng lè lưỡi bị lệch. Lúc này, lưỡi sẽ lệch về bên lành, điều này liên quan đến liệt cơ trâm lưỡi và cơ khẩu cái lưỡi sau khi thần kinh bị tổn thương.

55. Co thắt cơ mặt là gì? Liệt mặt có gây ra co thắt cơ mặt không?

Co thắt cơ mặt là một bệnh lý thường gặp trên lâm sàng, với biểu hiện chính là các triệu chứng kích thích dây thần kinh mặt ở một nửa khuôn mặt. Đặc điểm lâm sàng của nó là: co giật không đều, từng cơn của các cơ ở một nửa mặt, thường gặp ở phụ nữ trung niên trở lên. Giai đoạn đầu của bệnh thường biểu hiện là co giật ngắt quãng của cơ vòng mắt, dần dần lan rộng đến các cơ khác trên mặt. Bệnh này có thể nặng hơn do căng thẳng tinh thần, mệt mỏi và vận động chủ ý, biến mất khi ngủ, và có thể giảm bớt sau khi nghỉ ngơi. Co thắt cơ mặt không thể kiểm soát bằng ý chí, không thể tự ý xảy ra hoặc dừng lại. Co thắt cơ mặt thực sự thường được cho là do tổn thương thực thể gây ra, một số bệnh nhân khác là do thói quen hoặc yếu tố tâm lý.

Khi liệt dây thần kinh mặt ngoại biên không phục hồi hoặc phục hồi không hoàn toàn, các cơ bị liệt có thể xuất hiện co giật thoáng qua hoặc vận động liên hợp (đồng vận).

  • Co giật thoáng qua: Biểu hiện là co giật bất thường của các cơ ở một nửa mặt bên bệnh, khóe miệng bên bệnh co lại, rãnh mũi má sâu hơn, khe mắt thu hẹp. Trong trường hợp này, đôi khi bệnh nhân thậm chí có thể nhầm lẫn bên lành là bên bệnh. Khi yêu cầu bệnh nhân thực hiện vận động chủ động (như nhe răng), có thể thấy các cơ bên co rút không co lại. Tình trạng này là do sự thay đổi thứ phát sau bệnh lý của dây thần kinh mặt và các cơ mặt, không hoàn toàn giống với co thắt cơ mặt.
  • Đồng vận: Một tình trạng phổ biến khác là vận động liên hợp. Khi bệnh nhân chớp mắt, có thể kèm theo rung nhẹ môi trên; cũng có người khi nhe răng, mí mắt tự động nhắm lại; khi cố gắng nhắm mắt, cơ trán co lại hoặc khóe miệng cùng bên tự động nhếch lên. Sự xuất hiện của đồng vận là do một số sợi thần kinh trong quá trình tái tạo đã mọc nhầm vào đường đi của các sợi thần kinh khác, dẫn đến sự dẫn truyền xung động thần kinh sai lệch.
  • Hiện tượng nước mắt cá sấu: Có trường hợp khi ăn uống gây ra chảy nước mắt phản xạ, có thể là do các sợi thần kinh lẽ ra phải mọc vào tuyến nước bọt đã mọc nhầm vào tuyến lệ.

Các vận động không chủ ý của cơ mặt có thể do nhiều nguyên nhân. Khi bất kỳ phần nào của đường dẫn truyền trung ương và ngoại biên của dây thần kinh mặt bị kích thích, đều có thể xuất hiện co thắt cơ liên quan. Nó có thể là một bệnh riêng biệt, cũng có thể là triệu chứng đi kèm của các bệnh khác, cần phải phân tích cụ thể và phân biệt đối xử trên lâm sàng.

56. Rối loạn vận động cơ mặt có thể gặp trong những bệnh nào?

Ngoài liệt mặt trung ương và ngoại biên, các bệnh lý cơ mặt còn có thể gặp trong các bệnh về cơ, xuất hiện “bộ mặt bệnh cơ”, gặp trong các bệnh như loạn dưỡng cơ tiến triển, bệnh co cứng cơ teo.

  • Đối với bệnh nhân có tổn thương thân não, có thể xuất hiện liệt hoàn toàn cơ mặt.
  • Liệt giả hành tủy gây tổn thương não lan rộng, bệnh nhân có thể có bộ mặt vô cảm, khóc cười gượng gạo, thể hiện các biểu cảm đặc biệt như đau buồn, ngạc nhiên, sợ hãi.
  • Bệnh nhân nhược cơ nặng do liệt các cơ ngoài nhãn cầu hai bên, có thể có hai mắt cố định, sụp mí hai bên, cơ trán co lại để bù trừ, trông như đang ngủ.
  • Bệnh Parkinson có thể có bộ mặt vô cảm, giảm vận động chớp mắt, trông như mặt nạ. Nếu bệnh ở một bên, sự khác biệt biểu cảm giữa hai bên mặt rất rõ ràng.
  • Bệnh nhân múa giật biểu hiện đặc trưng là làm mặt xấu.
  • Các bệnh như bệnh phong, teo nửa mặt, phì đại một bên mặt đều có thể có các biểu hiện rối loạn vận động cơ mặt đặc biệt.

Do đó, khi có rối loạn vận động cơ mặt, cần phải kiểm tra chi tiết để xác định rõ nguyên nhân.

57. Viêm dây thần kinh mặt vô căn (liệt Bell) có những đặc điểm gì?

Nguyên nhân của viêm dây thần kinh mặt vô căn chưa rõ. Trong huyết thanh của bệnh nhân có thể phát hiện kháng thể virus herpes simplex. Một số học giả dựa vào đó phỏng đoán rằng, cơ thể trong những trạng thái đặc biệt có thể kích hoạt virus herpes simplex vốn đã tồn tại trong cơ thể, virus xâm phạm dây thần kinh mặt và gây bệnh. Suy giảm miễn dịch, mang thai, tiểu đường, yếu tố di truyền, v.v. đều là những yếu tố gây bệnh khả dĩ của viêm dây thần kinh mặt vô căn.

Bệnh này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ không có sự khác biệt rõ ràng. Trước khi phát bệnh, đa số có tiền sử bị lạnh hoặc mệt mỏi. Các triệu chứng như nghẹt mũi, đau cơ, đau họng hoặc các triệu chứng nhiễm virus khác có thể xuất hiện trong giai đoạn sớm của bệnh. Sau khi phát bệnh, bệnh nhân có thể bị giảm vị giác, hơn một nửa số bệnh nhân có thể bị đau sau tai ở các mức độ khác nhau ở bên bệnh.

Nếu kèm theo chóng mặt, rung giật nhãn cầu, có thể thực hiện kiểm tra rung giật nhãn cầu, thuộc về biểu hiện triệu chứng của thần kinh tiền đình. Tình trạng này có thể là bệnh đa dây thần kinh hoặc tổn thương thân não, cần phải phân biệt với liệt Bell.

Phù nề dây thần kinh mặt đạt đến đỉnh điểm trong vòng 7-10 ngày, trong thời gian này, liệt mặt có thể tiến triển nặng dần. Mục tiêu điều trị là giảm phù nề để bảo vệ chức năng thần kinh tối đa. Sau khi phù nề giảm, bệnh bước vào giai đoạn phục hồi.

  • Trường hợp nhẹ: Thường bắt đầu phục hồi trong vòng 2-4 tuần, và có thể gần như khỏi hoàn toàn sau 4-8 tuần.
  • Trường hợp nặng: Bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trong vòng 4-8 tuần. Nếu sau nửa năm vẫn không phục hồi tốt, hoặc vẫn không có sự phục hồi rõ rệt, hoặc kèm theo các biến chứng rõ ràng, thì phục hồi kém, có thể gây mất chức năng vĩnh viễn một phần dây thần kinh mặt, điều này có thể liên quan đến sự hình thành xơ hóa thần kinh trong màng ngoài thần kinh.

Chụp CT, MRI, điện cơ đồ, đo thính lực điện, kiểm tra chức năng thần kinh tiền đình giúp loại trừ các bệnh như u dây thần kinh mặt, u thần kinh thính giác, cholesteatoma, v.v. Việc hoàn thiện các xét nghiệm liên quan có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán phân biệt. Đối với những trường hợp liệt dây thần kinh mặt vô căn tái phát, mỗi lần phát bệnh đều nên kiểm tra lại từ đầu, tránh việc chỉ đơn giản dựa vào chẩn đoán lần trước để bắt đầu điều trị.

58. Kiểm tra điện sinh lý có vai trò gì trong chẩn đoán liệt Bell?

Kiểm tra điện sinh lý dây thần kinh mặt chủ yếu bao gồm: điện cơ đồ (EMG), điện cơ đồ kích thích, tốc độ dẫn truyền thần kinh, phản xạ chớp mắt, v.v. Độ chính xác của việc phán đoán tiên lượng bằng điện sinh lý thường cao hơn so với việc chỉ dựa vào diễn biến tự nhiên của liệt mặt.

Điện cơ đồ (EMG): Là một phương tiện quan trọng trong chẩn đoán và đánh giá tổn thương hệ thần kinh ngoại biên bằng điện sinh lý. Khi thần kinh bị tổn thương, trên EMG có thể xuất hiện điện thế rung giật sợi cơ, sóng nhọn dương. Nhưng do một số cơ được chi phối bởi thần kinh hai bên, một số bệnh nhân sau ba tuần mới xuất hiện điện thế rung giật sợi cơ, do đó độ chính xác của EMG trong việc phán đoán tiên lượng của bệnh nhân có hạn. Việc thực hiện EMG động có thể nâng cao độ chính xác của kiểm tra.

Điện cơ đồ kích thích (ENoG): Còn gọi là điện thần kinh đồ. Biên độ của điện thần kinh đồ tỷ lệ thuận với sự phóng điện của dây thần kinh mặt. Khi thần kinh bị tổn thương, biên độ giảm. Bằng cách so sánh bên bệnh và bên lành, có thể tính toán được mức độ thoái hóa tổn thương của sợi thần kinh mặt bên bệnh. Trong 1-3 ngày đầu của bệnh, viêm cấp tính và phù nề làm tăng tính kích thích của dây thần kinh mặt, lúc này kiểm tra ENoG có thể xuất hiện tình trạng tăng giả, kiểm tra thiếu tính đặc hiệu. Nhưng nếu kiểm tra trong vòng 8-14 ngày, tỷ lệ phát hiện bất thường có thể đạt 100%, là một chỉ số quan trọng để phán đoán liệt mặt và tiên lượng. Bệnh nhân có sợi thần kinh mặt thoái hóa trên 90% có tiên lượng xấu, cần phẫu thuật.

Tốc độ dẫn truyền thần kinh (NCV): Sự giảm tốc độ dẫn truyền thần kinh thường được cho là do sự thay đổi mất myelin của dây thần kinh mặt. Nếu bệnh lý thần kinh là do tắc nghẽn dẫn truyền, thì thời gian tiềm tàng vẫn trong phạm vi bình thường là 4 mili giây; nếu là thoái hóa một phần thần kinh, thời gian tiềm tàng sẽ kéo dài rõ rệt, nhưng tính kích thích của thần kinh vẫn còn; nếu thần kinh thoái hóa hoàn toàn, phản ứng của cơ bắt đầu giảm sau 2-3 ngày, và biến mất hoàn toàn sau 5-6 ngày. Khi kiểm tra phải so sánh hai bên. Tốc độ dẫn truyền thần kinh kết hợp với biên độ sóng phóng điện của dây thần kinh mặt có thể phán đoán tiên lượng của tổn thương dây thần kinh mặt. Tốc độ dẫn truyền giảm, biên độ bình thường thì phục hồi nhanh, tiên lượng tốt; tốc độ dẫn truyền giảm kèm theo biên độ giảm, được cho là có tổn thương sợi trục thần kinh, phục hồi chậm, tiên lượng kém.

Phản xạ chớp mắt (Blink Reflex): Là một kiểm tra phản xạ nhắm vào cơ vòng mắt. Trong 1-3 ngày đầu của liệt mặt đã có thể xuất hiện bất thường rõ rệt, có thể phản ánh trực tiếp và đáng tin cậy tổn thương dây thần kinh mặt sớm trong liệt Bell, có giá trị quan trọng trong chẩn đoán sớm. Nhưng chỉ riêng kiểm tra phản xạ chớp mắt thì thiếu giá trị phán đoán chính xác về tiên lượng của liệt mặt.

Các kiểm tra điện sinh lý nêu trên đều có ưu và nhược điểm riêng, cần phải kiểm tra lặp đi lặp lại nhiều lần, kết quả cần được phân tích tổng hợp và kết hợp với các triệu chứng lâm sàng mới có thể đưa ra kết luận chính xác. Ví dụ, tốc độ dẫn truyền và ENoG cho thấy thần kinh bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng EMG lại phát hiện có điện thế hoạt động tự chủ, cho thấy thần kinh có thể phục hồi, tiên lượng tốt. Nếu sau khi thần kinh bị tổn thương, EMG không có phản ứng, nhưng tốc độ dẫn truyền và ENoG phản ứng tốt, cũng cho thấy tổn thương không nặng và không cần phẫu thuật. Nếu qua kiểm tra điện sinh lý phán đoán tổn thương thần kinh đã đạt trên 90%, thì cần phải phẫu thuật càng sớm càng tốt trong vòng hai tháng sau khi tổn thương.

Kiểm tra điện sinh lý có thể phán đoán mức độ của liệt mặt cũng như sự phục hồi và tiên lượng của nó, nhưng trên lâm sàng vẫn có những bệnh nhân có tính kích thích của dây thần kinh mặt giảm rõ rệt nhưng cuối cùng vẫn phục hồi hoàn toàn. Do đó, việc phán đoán liệt mặt không thể chỉ dựa vào những kiểm tra này. Sự khởi phát nhanh hay chậm, bệnh trình dài hay ngắn, tình trạng trương lực cơ và mức độ liệt đều cần được xem xét. Những bệnh nhân khởi phát chậm, bệnh trình ngắn, trương lực cơ được duy trì, khi nghỉ ngơi hai bên mặt đối xứng, liệt không hoàn toàn thường có tiên lượng tốt.

Hiện nay, kiểm tra điện sinh lý đã được sử dụng trong việc giám sát trong phẫu thuật tổn thương dây thần kinh mặt để nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân. Ví dụ, đối với phẫu thuật giải áp cho zona tai và liệt Bell, tình huống lý tưởng là trong quá trình phẫu thuật, sử dụng kiểm tra điện sinh lý để phán đoán vị trí tổn thương thực sự, thay thế cho phẫu thuật giải áp toàn bộ, nhằm giảm chấn thương và nâng cao hiệu quả điều trị.

Phần VII: Điều trị

59. Khi bị liệt mặt, lần đầu nên đến khám ở khoa nào là phù hợp?

Liệt mặt là tên của một triệu chứng bệnh, nhiều nguyên nhân có thể gây ra liệt mặt. Do đó, sau khi phát hiện liệt mặt, việc chẩn đoán rõ ràng ngay từ đầu là mấu chốt để xác định phác đồ điều trị đúng đắn và nắm bắt thời cơ điều trị. Bệnh nhân liệt mặt nên đi khám càng sớm càng tốt, xác định rõ nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị chính quy. Khoa khám đầu tiên nên là khoa Nội Thần kinh hoặc khoa Tai Mũi Họng.

Tổn thương ở các vị trí khác nhau trên đường dẫn truyền của dây thần kinh mặt đều có thể gây ra liệt mặt. Thường cho rằng các bệnh về dây thần kinh mặt nên được khám đầu tiên tại khoa Nội Thần kinh, tại đây có thể phân biệt ngay lập tức giữa liệt mặt trung ương và liệt mặt ngoại biên, và áp dụng các biện pháp điều trị kịp thời cho các nguyên nhân khác nhau. Đặc biệt đối với bệnh nhân bị bệnh mạch máu não, họ có thể được cấp cứu ngay từ đầu, việc bảo tồn chức năng thần kinh cho bệnh nhân ở mức tối đa là vô cùng quan trọng.

Cũng có chuyên gia cho rằng việc khám đầu tiên tại khoa Tai Mũi Họng là cần thiết hơn, vì các kiểm tra chuyên khoa của khoa Tai Mũi Họng sẽ đánh giá toàn diện và chính xác hơn về việc bệnh nhân có cần phẫu thuật hay không, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến phác đồ điều trị tiếp theo của bệnh nhân.

Liệt mặt là một bệnh phức tạp, cần phải được điều trị có mục tiêu sau khi đã hoàn tất các kiểm tra liên quan và xác định rõ nguyên nhân. Bệnh nhân tuyệt đối không nên mù quáng áp dụng các biện pháp điều trị khi chưa rõ nguyên nhân. Đối với những bệnh nhân liệt mặt tái phát, cũng nên kiểm tra toàn diện trước để xác định xem bệnh có thay đổi gì không, tránh việc chưa chẩn đoán rõ ràng đã điều trị ngay theo phác đồ lần trước. Ở những khu vực có điều kiện y tế kém, nếu không có khoa chuyên khoa, sau một tháng điều trị không có sự cải thiện rõ rệt, cần phải chuyển ngay đến bệnh viện tuyến trên để được chẩn đoán và điều trị chuyên khoa.

60. Trong quá trình điều trị liệt mặt, nên đến khám ở khoa nào?

Khi liệt mặt phát bệnh, lần khám đầu tiên là tại khoa Nội Thần kinh hoặc Tai Mũi Họng. Sau khi đã xác định rõ nguyên nhân, cần áp dụng điều trị có mục tiêu.

  • Giai đoạn cấp tính (7-10 ngày): Nguyên tắc xử lý là kháng virus, giảm phù nề, tăng cường dinh dưỡng thần kinh. Giai đoạn này, ngoài việc sử dụng thuốc tiêm hoặc uống, có thể xem xét can thiệp châm cứu càng sớm càng tốt. Cần đặc biệt lưu ý, trong giai đoạn cấp tính, không nên sử dụng các thủ pháp kích thích mạnh tại vùng tổn thương. Việc chích lể tại chỗ và điều trị toàn thân đều có ý nghĩa tích cực trong việc giúp giảm phù nề tại chỗ sớm và tăng cường khả năng kháng bệnh của cơ thể.
  • Giai đoạn phục hồi (sau 7-10 ngày): Bệnh bước vào giai đoạn phục hồi. Châm cứu có ưu thế độc đáo và vai trò quan trọng trong việc rút ngắn bệnh trình, phục hồi chức năng thần kinh-cơ, trở thành phương pháp điều trị chính trong giai đoạn này.

61. Phác đồ điều trị chính cho liệt dây thần kinh mặt vô căn là gì?

Phương pháp điều trị liệt dây thần kinh mặt vô căn, tức liệt Bell, có thể được chia thành hai phần: điều trị bảo tồn và điều trị phẫu thuật.

Điều trị bảo tồn giai đoạn đầu: Nguyên tắc là kháng virus, giảm phù nề, cải thiện tuần hoàn, bảo vệ chức năng thần kinh. Thuốc điều trị chủ yếu là thuốc kháng virus và hormone. Đối với những bệnh nhân không có chống chỉ định, khuyến khích sử dụng hormone càng sớm càng tốt trong giai đoạn đầu. Thuốc hỗ trợ là vitamin nhóm B, thuốc cải thiện vi tuần hoàn, thuốc dinh dưỡng và sửa chữa thần kinh, hỗn hợp năng lượng, v.v. Trong giai đoạn cấp tính, sử dụng châm cứu nên với kích thích nhẹ tại chỗ, chích lể tại chỗ và điều trị toàn thân là chính. Đặc biệt đối với những nhóm bệnh nhân không thể sử dụng hormone và các loại thuốc khác, châm cứu có ý nghĩa rất tích cực.

Giai đoạn phục hồi: Ngừng điều trị kháng virus và hormone, tập trung vào các loại thuốc sửa chữa thần kinh và phục hồi chức năng. Giai đoạn này nên lấy các phương pháp như châm cứu, vật lý trị liệu làm chính. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của bệnh, có thể kết hợp uống thuốc YHCT tùy theo tình hình cụ thể.

Cũng có nghiên cứu cho rằng khoảng 70% các trường hợp liệt Bell có thể tự khỏi sau một thời gian nhất định, ngắn thì một tháng, dài thì nửa năm; khoảng 30% bệnh nhân còn lại di chứng như đồng vận, co thắt cơ mặt, teo một phần cơ mặt, tiên lượng kém. Đặc biệt đối với những bệnh nhân sau 10-20 ngày phát bệnh không có sự phục hồi rõ rệt, nên nhanh chóng tham gia điều trị châm cứu, điều này có vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình phục hồi bệnh.

Trong giai đoạn phục hồi, việc kết hợp với các phương pháp trị liệu bằng tay và tự tập luyện chức năng mặt cũng rất quan trọng, cần được chú trọng. Đối với những trường hợp mất chức năng dây thần kinh mặt trên 90%, sau 2 tháng điều trị bảo tồn vẫn không có sự phục hồi nào, cần thực hiện các kiểm tra thêm để xác định có cần phẫu thuật hay không. Phương pháp phẫu thuật chính là mở ống xương, rạch bao dây thần kinh mặt để giải áp dây thần kinh mặt. Tuy nhiên, hiệu quả phẫu thuật có thể khác nhau ở các bệnh nhân khác nhau. Hiện nay, giới y học cả Đông và Tây y vẫn đang tích cực tìm kiếm các phương pháp điều trị khác nhau cho các di chứng liệt mặt.

62. Viêm dây thần kinh mặt vô căn có cần phẫu thuật không?

Điều trị ngoại khoa cho viêm dây thần kinh mặt vô căn là thực hiện phẫu thuật giải áp dây thần kinh mặt, mở ống thần kinh mặt bằng xương, rạch bao dây thần kinh để giảm chèn ép lên dây thần kinh, bảo vệ cấu trúc thần kinh, ngăn ngừa thoái hóa thần kinh và thúc đẩy phục hồi chức năng thần kinh.

Đối với những bệnh nhân sau hai tháng điều trị bảo tồn vẫn không có hoạt động điện thần kinh, qua đánh giá tổn thương thần kinh đạt 90%-95%, hoặc những người sau khi phát bệnh tình trạng nghiêm trọng và khả năng tự phục hồi thấp, có thể xem xét thực hiện phẫu thuật giải áp thần kinh. Thời điểm điều trị tốt nhất không nên muộn hơn 4 tháng sau khi liệt mặt.

Gần đây, do hiệu quả của điều trị bảo tồn không ngừng được nâng cao, và sự không chắc chắn về hiệu quả sau phẫu thuật, hiện nay số lượng phẫu thuật chỉ dành riêng cho liệt Bell đã giảm đi rất nhiều. Đối với những người bị liệt trong thời gian dài, thiếu hụt chức năng thần kinh nghiêm trọng, có thể xem xét thực hiện phẫu thuật ghép dây thần kinh mặt để điều trị. Tuy nhiên, do sự không chắc chắn của kết quả phẫu thuật, trước khi điều trị phẫu thuật, cần phải đến các khoa chuyên khoa để được đánh giá chuyên môn đầy đủ rồi mới thực hiện.

Đối với những trường hợp liệt dây thần kinh mặt có nguyên nhân rõ ràng, như cholesteatoma, các loại khối u lành ác tính, cần phải phẫu thuật trước. Sau phẫu thuật có thể tiếp tục thực hiện các liệu pháp bảo tồn như châm cứu để thúc đẩy sự phục hồi toàn diện của chức năng dây thần kinh mặt.

63. Làm thế nào để điều trị tình trạng mắt nhắm không kín ở giai đoạn muộn của liệt mặt?

Đối với những người bị mắt nhắm không kín ở giai đoạn muộn của liệt mặt, có thể áp dụng các phương pháp phẫu thuật để phục hồi chức năng nhắm mắt. Mí mắt dưới có thể thực hiện phẫu thuật treo bằng mạc để nâng bờ mí dưới lên nhằm thu hẹp khe mắt; mí mắt trên có thể được điều chỉnh bằng phẫu thuật tạo mí đôi. Sau phẫu thuật có thể cải thiện hiệu quả nhắm mắt, phục hồi kích thước mắt bên bệnh, bệnh nhân có thể đạt được sự cải thiện hài lòng cả về ngoại hình và chức năng.

64. Sử dụng hormone để điều trị viêm dây thần kinh mặt vô căn như thế nào?

Hiện nay, điều trị lâm sàng cho viêm dây thần kinh mặt vô căn chủ yếu sử dụng các liệu pháp bảo tồn, nguyên tắc cốt lõi là chống viêm giảm phù nề, giảm chèn ép dây thần kinh mặt, bảo vệ tối đa cấu trúc và chức năng thần kinh. Liệu pháp cốt lõi này thường sử dụng nhất là điều trị bằng hormone.

Đối với liệt mức độ nhẹ, tỷ lệ chữa khỏi không liên quan nhiều đến việc có dùng thuốc hay không. Nhưng đối với liệt từ mức độ trung bình trở lên, dùng thuốc càng sớm, kiểm soát phù nề càng sớm thì hiệu quả điều trị càng tốt. Do đó, đối với những bệnh nhân không có chống chỉ định lâm sàng, cần nhấn mạnh việc dùng thuốc sớm và đủ liều.

Về cách dùng và liều lượng hormone, có những ý kiến không hoàn toàn giống nhau, nhưng phác đồ được công nhận rộng rãi là dùng hormone đủ liều trong thời gian ngắn (xác định liều lượng dựa trên cân nặng tiêu chuẩn). Tùy theo thói quen dùng thuốc khác nhau, có thể áp dụng phương pháp uống một lần vào buổi sáng, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Các bác sĩ lâm sàng cũng thường cho rằng việc sử dụng hormone đồng thời với các loại thuốc cải thiện tuần hoàn sẽ có hiệu quả tốt hơn.

Sử dụng sớm và kịp thời các loại thuốc hormone có thể làm giảm đáng kể tình trạng bệnh, rút ngắn bệnh trình và tăng cường hiệu quả điều trị. Những nhóm người không phù hợp để sử dụng liệu pháp hormone, hoặc cần thận trọng khi dùng thuốc là bệnh nhân tiểu đường, bệnh nhân suy gan thận, người nhạy cảm với hormone, hoặc những người có chống chỉ định sử dụng hormone. Do đó, trước khi sử dụng liệu pháp hormone, nếu có bất kỳ bệnh nền nào, cần phải thông báo rõ ràng cho bác sĩ.

65. Bị viêm dây thần kinh mặt vô căn cần uống thuốc trong bao lâu?

Giai đoạn đầu của viêm dây thần kinh mặt vô căn, cần sử dụng đủ liệu trình thuốc kháng virus và hormone, thường là uống thuốc trong 7-10 ngày kể từ khi phát bệnh. Trong giai đoạn này, cũng nên bổ sung các loại thuốc như dibazol, vitamin nhóm B và các loại thuốc cải thiện tuần hoàn khác.

Khi bệnh bước vào giai đoạn phục hồi, tức là sau 7-10 ngày liệt mặt, ngừng sử dụng thuốc kháng virus và hormone. Thuốc uống chủ yếu là thuốc dinh dưỡng thần kinh và thuốc cải thiện tuần hoàn. Trừ những trường hợp cá biệt có triệu chứng nhẹ có thể tự khỏi, đối với bệnh nhân mức độ trung bình và nặng, thời gian uống thuốc có thể dựa vào mức độ khỏi bệnh, ngắn thì một tháng, dài thì 3 tháng đến nửa năm.

Uống thuốc YHCT có ý nghĩa rất tích cực trong việc tăng cường hiệu quả điều trị hoặc đối với những bệnh nhân không thể sử dụng hormone do tình trạng sức khỏe của bản thân.

Ngoài ra, trong suốt quá trình bệnh, bệnh nhân viêm dây thần kinh mặt vô căn đều có thể xuất hiện triệu chứng mắt nhắm không kín. Lúc này cần chú ý vệ sinh mắt, nên dùng kính bảo hộ hoặc băng mắt và thuốc nhỏ mắt chống viêm. Việc điều trị này cần được chú ý trong suốt quá trình bệnh cho đến khi khỏi hoàn toàn.

66. Giai đoạn cấp tính của viêm dây thần kinh mặt có thể châm cứu không?

Việc có thể châm cứu trong giai đoạn cấp tính của viêm dây thần kinh mặt hay không vẫn là một vấn đề gây tranh cãi. Có người cho rằng càng sớm càng tốt, có bác sĩ cho rằng sau 7 ngày, khi bước vào giai đoạn phục hồi thì dùng là tốt nhất, cũng có bác sĩ cho rằng hoàn toàn không cần châm cứu. Cả ba quan điểm này đều xuất phát từ quan sát lâm sàng, hiện tại thiếu bằng chứng nghiên cứu y học dựa trên bằng chứng.

Về mục tiêu điều trị cụ thể, không nghi ngờ gì nữa, cần phải đưa ra quyết định dựa trên các nguyên tắc điều trị viêm dây thần kinh mặt. Giai đoạn đầu của viêm dây thần kinh mặt, thần kinh bị phù nề nghiêm trọng, ngay cả khi thực hiện châm cứu, cũng không nên châm sâu ở mặt bên bệnh. Thay vào đó, có thể áp dụng phương pháp chích lể ở đỉnh tai bên bệnh, hoặc kết hợp điều chỉnh toàn diện dựa trên các triệu chứng toàn thân. Mục đích vẫn là điều trị để giảm phù nề dây thần kinh mặt cho bệnh nhân ở mức tối đa.

Giai đoạn đầu tuyệt đối không nên thực hiện các kích thích mạnh ở mặt bên bệnh hoặc các liệu pháp có tính chất ấm nóng như chườm nóng, vì bất kỳ kích thích mạnh và liệu pháp ấm nóng nào cũng có thể làm phù nề nặng hơn, làm chậm trễ bệnh tình. Ngược lại, sau 7 ngày bị bệnh, giai đoạn phù nề đã qua, chức năng dây thần kinh mặt bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi. Lúc này có thể tập trung chọn các huyệt vị ở mặt bên bệnh để điều trị, giúp bệnh nhân phục hồi chức năng dây thần kinh mặt. Thời điểm này, việc bổ sung các liệu pháp như châm cứu, cứu ngải, vật lý trị liệu là thích hợp.

Cũng có bác sĩ cho rằng viêm dây thần kinh mặt vô căn bản thân nó là một bệnh tự khỏi, không cần can thiệp thêm. Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân sau 10-20 ngày phát bệnh vẫn không có sự phục hồi rõ rệt, vẫn nên chấp nhận điều trị châm cứu, có thể giúp bệnh nhân phục hồi nhanh hơn, rút ngắn bệnh trình và có tiên lượng tốt hơn. Viêm dây thần kinh mặt vô căn là một bệnh phức tạp, các quá trình phát bệnh khác nhau sẽ có kết quả bệnh khác nhau, cần có bác sĩ chuyên khoa áp dụng các biện pháp điều trị khác nhau tùy theo từng giai đoạn của bệnh, không thể đánh đồng.

67. Y học cổ truyền điều trị liệt mặt bằng những phương pháp nào?

Bệnh liệt mặt trong YHCT chủ yếu bao gồm viêm dây thần kinh mặt vô căn và liệt mặt ngoại biên do zona hạch gối của y học hiện đại. Liệt mặt trung ương đa phần được ghi chép và thảo luận trong mục trúng phong. Châm cứu chiếm một vị trí quan trọng trong điều trị bệnh liệt mặt, thường kết hợp với các loại thuốc như thuốc YHCT, và được đông đảo bác sĩ và bệnh nhân công nhận vì hiệu quả tốt.

Giai đoạn cấp tính: Điều trị chủ yếu là sơ tán phong tà, khu phong chỉ thống. Có thể áp dụng phương pháp chích lể ở đỉnh tai bên bệnh, kết hợp với các huyệt toàn thân. Thuốc YHCT chủ phương là Khiên Chính Tán, có thể gia giảm tùy theo triệu chứng.

Giai đoạn phục hồi: Điều trị châm cứu chủ yếu là sơ kinh thông lạc, hành khí hoạt huyết. Các trường phái châm cứu và phương pháp không giống nhau. Các huyệt truyền thống thường được chọn là Phong Trì, Ế Phong, Dương Bạch, Giáp Xa, Địa Thương, Đại Nghinh, Toản Trúc, Ty Trúc Không, Tinh Minh, Nghinh Hương, Cự Liêu ở bên bệnh, cũng có thể phối hợp với các huyệt toàn thân như Hợp Cốc, Thái Xung để biện chứng luận trị. Lúc này có thể kết hợp với các liệu pháp bên ngoài như đèn hồng ngoại, điện châm, và kết hợp với các thủ pháp massage và bệnh nhân tự tập luyện chức năng.

Các liệu pháp đặc trưng khác: Như mai hoa châm, các liệu pháp chích lể ở các vị trí khác nhau, cứu ngải, đắp thuốc, tiêm huyệt, cắt lể, châm đao, v.v. đều có các tài liệu liên quan báo cáo.

Điều trị bằng thuốc YHCT: Có thể chọn các phương thuốc truyền thống như Đại Hoạt Lạc Hoàn, Thiên Ma Câu Đằng Ẩm, Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang, Huyết Phủ Trục Ứ Thang, Cát Căn Thang làm phương thuốc cơ bản để gia giảm, có thể biện chứng luận trị tùy theo tình hình cụ thể.

68. Liệt mặt liên quan đến những kinh mạch nào?

Theo lý luận học thuyết kinh lạc, các kinh mạch đi qua vùng mặt của cơ thể bao gồm:

  • Kinh Túc Dương Minh Vị: Đi qua mũi, gò má, miệng, má, đến góc trán và cổ, là kinh mạch chính đi qua vùng đầu mặt.
  • Kinh Thủ Dương Minh Đại Trường: Đi qua môi và răng dưới.
  • Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm: Từ họng đi lên lưỡi, nối liền đến dưới mắt, có thể dùng để điều trị tâm phiền, rối loạn vị giác.
  • Kinh Thủ Thái Dương Tiểu Trường: Từ gáy đi lên đầu mặt, nối liền đến mắt, tai và cơ má, điều trị các triệu chứng như chảy nước mắt, khô mắt, ù tai thường chọn huyệt từ kinh này.
  • Kinh Túc Thái Dương Bàng Quang: Bắt đầu từ khóe mắt trong, đi lên trán đến đỉnh đầu, nối liền đến vùng gáy, điều trị các triệu chứng như nếp nhăn trán biến mất, chảy nước mắt, khô mắt, cau mày đều có thể chọn huyệt từ kinh này.
  • Kinh Thủ Thiếu Dương Tam焦: Đường đi của nó qua tai, cơ má, cơ thái dương, là kinh mạch quan trọng để điều trị liệt mặt kèm theo các triệu chứng ở tai.
  • Kinh Túc Thiếu Dương Đởm: Đi qua khóe mắt ngoài, vùng tai-thái dương, vùng gáy. Trong điều trị liệt mặt, các huyệt của kinh Đởm cũng được sử dụng rất thường xuyên.
  • Ngoài ra, kinh Túc Quyết Âm Can đi lên đến đỉnh đầu, Nhâm mạch và Đốc mạch cũng đi qua đường giữa của đầu mặt.

Các kinh mạch trên trong điều tribulations liệt mặt, đều có thể được sử dụng từ góc độ biện chứng kinh lạc để luận trị.

69. Điều trị tại chỗ cho liệt mặt có thể chọn những huyệt vị nào?

  • Nếp nhăn trán biến mất: Chọn Dương Bạch thấu Ngư Yêu, Mi Xung thấu Toản Trúc, Đầu Lâm Khấp thấu Ngư Yêu, Đầu Duy thấu Ty Trúc Không.
  • Không thể cau mày: Chọn Toản Trúc, Toản Trúc thấu Ty Trúc Không, Dương Bạch.
  • Mắt nhắm không kín: Chọn Tinh Minh, Toản Trúc, Ty Trúc Không, Thừa Khấp, Tứ Bạch.
  • Chảy nước mắt: Chọn Tinh Minh, Tứ Bạch thấu Tinh Minh, Nội Tinh Minh, Đầu Lâm Khấp, Tứ Bạch, Thừa Khấp.
  • Rãnh mũi má mờ đi: Chọn Cự Liêu thấu Nghinh Hương, Địa Thương thấu Nghinh Hương.
  • Không thể nhăn mũi: Chọn Thượng Nghinh Hương, Nghinh Hương, Nghinh Hương thấu Tinh Minh.
  • Rãnh nhân trung lệch: Chọn Thủy Câu, Thừa Tương, Khẩu Hòa Liêu.
  • Khóe miệng xệ xuống: Dùng Thái Dương thấu Giáp Xa, Địa Thương thấu Giáp Xa, Hạ Quan thấu Địa Thương.
  • Chảy nước dãi: Chọn Địa Thương, Giáp Thừa Tương, Thừa Tương.
  • Rãnh môi má lệch: Chọn Thừa Tương, Thừa Tương thấu Địa Thương, v.v.
  • Khô miệng: Chọn Liêm Tuyền, Kim Tân, Ngọc Dịch.
  • Mặt sưng: Tại chỗ chọn huyệt Hạ Quan, Ế Phong, còn có thể phối hợp với các huyệt toàn thân như Hợp Cốc, Túc Tam Lý, Âm Lăng Tuyền.
  • Giảm vị giác: Chọn Kim Tân, Ngọc Dịch, Hạ Quan.
  • Đau mỏm chũm, tăng nhạy cảm với âm thanh, ù tai: Chọn Ế Phong, Phong Trì, Thính Cung, Suất Cốc, Hoàn Cốt, Ngoại Quan.

Đối với những bệnh nhân có các rối loạn cảm giác như chảy nước mắt, khô mắt, giảm vị giác, còn có thể áp dụng phương pháp kích thích hạch chân bướm khẩu cái để điều trị.

70. Có huyệt “Liệt Mặt” không?

Trong các huyệt ngoài kinh có một huyệt vị gọi là “huyệt Liệt Mặt” (diện than huyệt), nằm ở chỗ giao nhau giữa kinh Thủ Dương Minh Đại Trường và kinh Túc Thiếu Dương Đởm ở vai. Nó nằm cách 1/3 ngoài xương đòn 1.5 thốn về phía trên và chéo, tương đương với vị trí cách điểm giữa cơ thang 1 thốn ra ngoài. Khi thực hiện, lúc bệnh nhân có cảm giác đắc khí, cảm giác tê tức sẽ truyền lên đầu mặt. Khi châm huyệt này không được quá nhanh, quá sâu để phòng tràn khí màng phổi, đồng thời có thể phối hợp với chiếu đèn hồng ngoại để tăng cường hiệu quả. Hiện tại, các báo cáo về huyệt này còn ít, thuộc loại huyệt kinh nghiệm.

71. Có thể chích lể trong miệng để điều trị liệt mặt không? Đây là phương pháp điều trị gì?

Trong châm cứu có một huyệt đặc biệt gọi là “huyệt Điếu Tuyến” (điếu tuyến huyệt). Huyệt này nằm ở niêm mạc má bên trong khoang miệng, giữa hai hàm răng trên và dưới có một đường màu trắng hoặc đỏ dày như sợi chỉ, YHCT gọi đó là “huyệt Điếu Tuyến”. Đường này thường thấy ở người trưởng thành, thường không có triệu chứng tự giác. Nếu cơ má vận động không thuận lợi, đường này có thể dày lên, đỏ hơn hoặc trắng bệch. YHCT có thể dùng kim tam lăng sau khi đã khử trùng thông thường, chích lể tại các điểm cách nhau 0.5-1 cm gần đường này để ra máu, điều trị tình trạng vận động không thuận lợi của mặt bên bệnh. Sau khi châm, còn có thể phối hợp với các thủ pháp massage mặt bên bệnh để tăng cường hiệu quả.

72. Giai đoạn cấp tính có thể dùng điện châm điều trị liệt mặt không?

Việc dùng điện châm điều trị liệt mặt trong giai đoạn cấp tính là một vấn đề gây tranh cãi.

  • Một số bác sĩ chủ trương không điều trị ở bên bệnh trong giai đoạn cấp tính, do đó không có vấn đề sử dụng điện châm kích thích tại chỗ bên bệnh vào lúc này.
  • Một số bác sĩ khác lại chủ trương trong giai đoạn cấp tính, nên cho một kích thích điện rất yếu ở bên bệnh, cho rằng có thể tăng cường tính hưng phấn của thần kinh, tăng cường sự co của sợi cơ, thúc đẩy sự hấp thu viêm, và giảm bớt sự teo và thoái hóa của cơ bị bệnh.

Khi thực hiện liệu pháp này trong giai đoạn cấp tính, cần phải nắm vững độ sâu của kim châm, cường độ dòng điện và thời gian thông điện. Thời gian thông điện nên bắt đầu từ 1-2 phút, khi bệnh tình cải thiện có thể tăng lên 3-5 phút, không nên thông điện quá lâu, không nên thấy cơ mặt co tốt mà thông điện trong thời gian dài. Đối với những bệnh nhân đồng thời sử dụng các biện pháp phục hồi chức năng như kích thích tần số trung bình, cần chủ động thông báo cho bác sĩ, tránh việc sử dụng lặp lại quá liều kích thích điện tại vùng bệnh. Hiện tại, các nghiên cứu có thẩm quyền về lĩnh vực này còn thiếu, đa phần đến từ quan sát và kinh nghiệm lâm sàng. Do đó, khi sử dụng liệu pháp này trong giai đoạn cấp tính, cần phải phân biệt rõ bệnh tình và có thái độ thận trọng.

73. Liệt mặt sau đó bị chảy nước mắt thì điều trị như thế nào?

Sau khi bị liệt mặt, do các cơ ở vùng mũi bị sưng và mất chức năng, có thể xuất hiện tình trạng ống lệ mũi bị chèn ép không thông và các triệu chứng kích thích. Ngoài ra, khi bị liệt mặt, mí mắt bên bệnh nhắm không kín, nhãn cầu dễ bị kích thích từ bên ngoài, mí mắt dưới xệ xuống làm cho điểm lệ bị lật ra ngoài, v.v., các yếu tố này đều có thể gây ra triệu chứng “chảy nước mắt”. Châm cứu thường sử dụng huyệt Tinh Minh, Thừa Khấp để điều trị, các trường phái khác nhau sử dụng các huyệt vị không giống nhau dựa trên kinh nghiệm.

Gần đây, phương pháp kích thích hạch chân bướm khẩu cái được tạo ra dựa trên lý thuyết giải phẫu học cũng đã được ứng dụng trong điều trị chảy nước mắt do liệt mặt. Nguyên nhân là do các sợi thần kinh từ hạch chân bướm khẩu cái có tác dụng chi phối sự tiết nước mắt, phần thần kinh này trong viêm dây thần kinh mặt bị tổn thương chức năng có thể ảnh hưởng đến sự tiết của tuyến lệ.

74. Có những phương pháp châm cứu nào để điều trị tình trạng mắt nhắm không kín do liệt mặt?

Châm cứu điều trị mắt nhắm không kín có thể chọn huyệt tại chỗ theo sự phân bố kinh lạc hoặc giải phẫu cơ.

  • Có phương pháp thấu châm, châm từ đuôi mắt dọc theo mí mắt trên và dưới xuyên về phía khóe mắt trong, phương pháp này do giáo sư Bành Tĩnh Sơn sáng tạo đầu tiên.
  • Cũng có bác sĩ sử dụng phương pháp kích thích hạch cánh bướm khẩu cái để điều trị bệnh này, phương pháp này do giáo sư Lý Tân Ngô sáng tạo đầu tiên.
  • Cũng có báo cáo về việc chích lể kết mạc mí mắt để điều trị bệnh này, thuộc phương pháp chích lể ra máu.

Mô cơ ở vùng mắt lỏng lẻo, cung cấp máu phong phú, dù sử dụng phương pháp điều trị nào, việc châm cứu vùng mắt phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thao tác, không được dùng thủ pháp quá mạnh, phòng ngừa xuất huyết dưới da, tránh hậu quả không mong muốn.

75. Làm thế nào để dùng phương pháp “nhỏ mắt” điều trị liệt mặt?

“Phương pháp nhỏ mắt” là một phương pháp chọn một lượng thuốc thích hợp, gia công và phối hợp thành bột để nhỏ vào mắt, dùng để điều trị liệt mặt. Các loại thuốc thường được chọn là Thạch cao, Băng phiến, Huyền minh phấn, v.v. Lấy một lượng nhỏ bột thuốc đã gia công nhỏ vào mắt, mắt sẽ có cảm giác mát lạnh, lúc này lòng trắng mắt sẽ đỏ lên, sau đó chảy nước mắt, rồi dần dần ngừng lại. Lòng trắng mắt bị đỏ thường sẽ biến mất sau khoảng 2 giờ. YHCT truyền thống sử dụng phương pháp này để điều trị liệt mặt, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, giãn mạch, tiêu sưng, giảm co thắt, điều trị bệnh.

76. Châm vào niêm mạc bên trong lỗ mũi để điều trị liệt mặt là liệu pháp gì?

Phương pháp này xuất phát từ sách Ngọc Long Kinh, sách này ghi chép rằng ở đầu trên bên trong lỗ mũi, gần gốc mũi, phía bên mắt trên niêm mạc mũi có huyệt “Nội Nghinh Hương”. Châm vào huyệt này hoặc chích lể 2-3 lần, sâu khoảng 1 phân để ra máu, dùng để điều trị tình trạng khó nhăn mũi sau khi bị liệt mặt. Trong khi châm, yêu cầu bệnh nhân co mũi, thường thì sau khi châm ra máu hiệu quả sẽ tốt hơn. Hiện nay, một số kết quả nghiên cứu cho rằng phương pháp châm này có thể làm giảm viêm vô khuẩn và phù nề tại chỗ của bệnh nhân, có thể điều trị bệnh này thông qua tác dụng cải thiện tuần hoàn tại chỗ.

77. Phương pháp nhét thuốc YHCT vào mũi để điều trị liệt mặt là gì?

YHCT truyền thống có một phương pháp điều trị liệt mặt bằng cách nghiền thuốc YHCT thành bột, gói lại và nhét vào mũi. Thường sử dụng các loại thuốc như Xuyên ô, Thảo ô, Phụ tử, Tế tân, Nga bất thực thảo phối hợp thành bột. Mỗi lần điều trị chỉ nhét một bên mũi. Đối với các loại thuốc có tính kích thích mạnh, thường khi một bên cảm thấy nóng hoặc tê thì đổi sang bên kia. Đối với các loại thuốc có dược tính ôn hòa, có thể để trong một bên mũi 24 giờ rồi mới đổi sang bên đối diện. Khi sử dụng liệu pháp này, cần chú ý theo dõi vị trí của gói thuốc, gói thuốc nên hơi to, phần lớn để bên ngoài mũi, tránh gói thuốc quá nhỏ bị hít sâu vào mũi khó lấy ra.

78. Phương pháp thấu châm điều trị liệt mặt là gì?

Phương pháp thấu châm điều trị liệt mặt là dựa vào đường đi và hướng co của các cơ bị bệnh, chọn hai huyệt vị liên quan, châm từ một huyệt, đầu kim đâm đến huyệt kia. Sau khi châm, có thể áp dụng một số thủ pháp châm cứu để tăng cường hiệu quả. Ví dụ, sau khi châm có thể xoay kim theo một hướng để làm cho sợi cơ quấn vào thân kim tạo thành trạng thái “trệ châm”, sau đó kéo kim lên để kích thích phục hồi thần kinh-cơ. Phương pháp này được gọi là “phép trệ châm”, cũng có nơi gọi là “phép móc câu” hoặc “phép vẩy kim”, thường được sử dụng trong các trường hợp liệt mặt mức độ trung bình-nặng hoặc liệt mặt khó chữa. Khi thực hiện liệu pháp này, cần chú ý dùng lực vừa phải, không được quá mạnh hoặc quá đột ngột. Khi rút kim, cần xoay ngược lại để đưa thân kim về vị trí ban đầu rồi mới rút ra, tránh gây tổn thương do thủ pháp quá mạnh.

79. Châm kim trong da điều trị liệt mặt là gì?

Châm kim trong da (nhĩ hoàn châm) là một loại kim nhỏ đặc chế, được châm vào lớp bề mặt của da và cố định dưới da bằng băng dính, có thể lưu lại trong một thời gian dài, phù hợp với nhu cầu điều trị cần kích thích nhẹ, liên tục trong thời gian dài. Điều trị bằng kim trong da thường chọn huyệt tại chỗ dựa trên vùng bệnh. Khi thực hiện liệu pháp này, cần chú ý vệ sinh và khử trùng bề mặt da. Thường thì vào mùa hè, lưu kim 1-2 ngày, mùa đông lưu kim 2-3 ngày. Trong thời gian lưu kim, bệnh nhân có thể tự ấn vào vùng châm 2-4 lần mỗi ngày, mỗi lần 1-2 phút, ấn với mức độ cảm thấy tê tức hoặc thoải mái là được, thủ pháp không nên quá mạnh, nhằm tăng cường hiệu quả. Trong quá trình điều trị, cần giữ cho vùng đó sạch sẽ và khô ráo, thay kim mới kịp thời. Dụng cụ chỉ được sử dụng một lần. Nếu tại lỗ kim xuất hiện các triệu chứng khó chịu như đỏ, ngứa, cần phải lấy ra ngay, khử trùng nghiêm ngặt, theo dõi chặt chẽ để phòng nhiễm trùng. Nếu nhiễm trùng nặng, cần phải đi khám ngay. Kim đã lấy ra không được vứt bừa bãi, cần được thu gom vào chai rỗng hoặc hộp giấy, sau đó xử lý như rác thải y tế.

80. Phương pháp tiêm huyệt điều trị liệt mặt là gì?

Sau khi bệnh nhân bị liệt mặt, chọn các huyệt vị thích hợp tại vùng bệnh, tiêm vào đó các loại thuốc có tác dụng dinh dưỡng và phục hồi thần kinh, đó là phương pháp tiêm huyệt. Mỗi lần điều trị thường chọn 3 huyệt để tiêm. Thuốc có thể dùng là các loại thuốc tiêm vitamin nhóm B, yếu tố dinh dưỡng thần kinh, citicoline, v.v.

Một số học giả cho rằng nên thận trọng khi sử dụng liệu pháp tiêm huyệt. Đối với những bệnh nhân liệt mặt mức độ trung bình-nặng sau nửa năm điều trị không có hiệu quả lý tưởng, có thể thử dùng từ liều nhỏ, tránh sử dụng liều lớn trong giai đoạn sớm để phòng ngừa các kết quả không mong muốn như co thắt cơ mặt. Cũng có người sử dụng phương pháp cấy chỉ hoặc cấy thuốc vào huyệt để điều trị bệnh này, cơ chế tương tự, nhưng phương pháp này cần được chuyên gia đánh giá đầy đủ rồi mới được lựa chọn sử dụng.

81. Làm thế nào để ứng dụng mai hoa châm điều trị liệt mặt?

Liệu pháp mai hoa châm, còn gọi là “liệu pháp châm da”, “bán thích”, “phù thích”, “mao thích”, là một phương pháp châm cứu sử dụng kim mai hoa gõ nhẹ lên lớp da nông theo một đường đi nhất định. Khi gõ, cần chú ý sử dụng lực cổ tay gõ nhẹ lên mặt để đạt được tác dụng điều trị là kích phát kinh khí, loại bỏ ngoại tà, hành khí hoạt huyết, sơ thông kinh lạc.

  • Giai đoạn cấp tính: Thủ pháp gõ phải cực kỳ nhẹ, có thể phối hợp với liệu pháp chích lể.
  • Giai đoạn phục hồi: Có thể tăng cường độ điều trị một cách thích hợp, gõ đến khi da tại chỗ hơi đỏ là được, và có thể phối hợp với các phương pháp như cứu ngải, chườm nóng, vật lý trị liệu bằng đèn hồng ngoại.

82. Bị liệt mặt châm vào huyệt “Thái Xung” ở chân là vì sao?

Trên bàn chân có một huyệt vị là “huyệt Thái Xung”. Huyệt Thái Xung thuộc kinh Túc Quyết Âm Can, nằm ở chỗ lõm phía sau khe xương bàn chân thứ nhất. Sách Bách Chứng Phú có ghi: “Thái Xung tả thần oa dĩ tốc dũ” (Tả huyệt Thái Xung để chữa méo miệng nhanh khỏi).

Về mặt lý luận, kinh Túc Quyết Âm Can đi lên đến đầu mặt, mà liệt mặt phát bệnh đa phần do phong tà xâm nhập vào mặt, kinh mạch mất đi sự nuôi dưỡng, cơ bắp giãn lỏng không co lại được. Hơn nữa, Can chủ về gân cơ, Thái Xung là nguyên huyệt của kinh Can, là nơi nguyên khí của tạng phủ đi qua và lưu lại, có khả năng điều chỉnh mạnh mẽ đối với các bệnh của kinh Can. Do đó, chọn huyệt Thái Xung để điều trị liệt mặt.

Ngoài ra, dựa trên kinh nghiệm lâm sàng, châm huyệt Thái Xung có cảm giác đắc khí mạnh. Trên lâm sàng, người ta còn thường kết hợp Thái Xung với Hợp Cốc để tăng cường hiệu quả, gọi chung là “phép khai tứ quan”. Liệu pháp này có tác dụng điều trị tốt đối với các bệnh ở mặt, là một phương pháp châm cứu thường được sử dụng trên lâm sàng.

83. Châm bên lành để điều trị liệt mặt là gì?

Sách Linh Khu có ghi chép một phương pháp châm là “cự thích”, là phương pháp chọn huyệt bên phải để chữa bệnh bên trái, và ngược lại. Phương pháp cự thích thường được sử dụng trong giai đoạn cấp tính của liệt mặt, hoặc ở những bệnh nhân liệt mặt lâu ngày có sự bất đối xứng cực độ về vận động và cảm giác hai bên, cho rằng liệu pháp này có thể điều chỉnh trạng thái mất cân bằng âm dương của kinh mạch hai bên.

Có báo cáo cho rằng trong giai đoạn cấp tính của liệt mặt, châm bên lành có thể rút ngắn đáng kể bệnh trình. Cũng có báo cáo cho rằng ở giai đoạn sau của liệt mặt, châm bên lành có thể điều chỉnh sự cân bằng trương lực cơ mặt hai bên, làm cho sức cơ bên lành giãn ra, giúp cho sức cơ bên bệnh phục hồi. Phương pháp này còn được gọi là “phương pháp châm hai chiều”, trong châm cứu học thuộc một loại phương pháp phối huyệt trái-phải.

84. Liệu pháp cắt lể điều trị liệt mặt như thế nào?

Liệu pháp cắt lể là một trong những phương pháp ngoại trị của YHCT. Sau khi xác định một vị trí điều trị nhất định bằng cách sờ nắn hoặc quan sát sự thay đổi màu sắc, khử trùng đầy đủ, lấy điểm điều trị làm trung tâm, rạch một vết cắt nhỏ vài milimét trên bề mặt da. Có thể để một lượng máu nhất định chảy ra, cũng có thể dựa vào kinh nghiệm điều trị để chôn một lượng thuốc nhất định hấp thu qua da. Vết cắt không cần khâu, chỉ cần khử trùng đầy đủ sau khi điều trị, giữ cho vết thương sạch sẽ và khô ráo, phòng nhiễm trùng là được.

Mỗi lần điều trị bằng cắt lể không nên chọn quá nhiều hoặc quá dày đặc các điểm, có thể chia thành nhiều lần, mỗi lần chọn các vị trí khác nhau để điều trị. Đối với những bệnh nhân có đường huyết cao, chức năng đông máu kém, tình trạng da không tốt hoặc cơ địa sẹo lồi, cần thận trọng hoặc cấm sử dụng phương pháp này.

85. Liệu pháp nhĩ châm điều trị liệt mặt như thế nào?

Liệu pháp nhĩ châm là một phương pháp sử dụng kim nhỏ, kim trong da hoặc phương pháp dán hạt vương bất lưu hành vào các huyệt trên tai để điều trị liệt mặt. Dựa vào phương pháp định vị huyệt tai, có thể biện chứng chọn các huyệt như Mắt, Miệng, Má, Tai, Lưỡi, v.v. Cũng có thể dựa vào biện chứng để gia giảm chọn các huyệt tai như Vị, Đại trường, Can, Phế, Đởm, Tâm.

Trước khi điều trị, cần quan sát tình trạng da tai, nếu da có tổn thương hoặc chảy dịch thì không phù hợp để sử dụng phương pháp này. Trước khi điều trị cần khử trùng nghiêm ngặt tại chỗ. Sau khi châm hoặc dán hạt, cần đạt được cảm giác đắc khí. Có thể lưu kim dài hoặc không lưu kim. Đối với những người lưu kim, cần theo dõi chặt chẽ tình trạng da tại chỗ, giữ cho vùng đó sạch sẽ và khô ráo. Nếu xuất hiện đau nhói không chịu được, màu sắc đỏ sưng, có xu hướng nhiễm trùng, cần phải ngừng điều trị ngay lập tức và tiến hành xử lý chống nhiễm trùng. Dán hạt tai có thể lưu lại trong thời gian dài hơn. Điều trị bằng nhĩ châm được đông đảo bệnh nhân chấp nhận vì đơn giản, tiện lợi, rẻ tiền và hiệu quả. Nhưng dù là phương pháp nào, cũng cần phải dựa trên nguyên tắc biện chứng luận trị, khử trùng nghiêm ngặt, nắm vững quy trình thao tác và các điều nên và không nên làm.

86. Các phương pháp cứu ngải thường dùng để điều trị liệt mặt là gì?

Cứu ngải điều trị liệt mặt có lịch sử lâu đời, nhiều sách cổ YHCT đều có ghi chép về phương pháp này. Gần đây, người ta thường áp dụng phương pháp cứu ngải tại chỗ, việc chọn huyệt tương tự như châm cứu. Các huyệt thường dùng là Dương Bạch, Tứ Bạch, Thái Dương, Quyền Liêu, Địa Thương, Giáp Xa, Hạ Quan, Phong Trì, Ế Phong, Nghinh Hương, v.v. Các huyệt ở xa thường là Hợp Cốc, Thái Xung, Túc Tam Lý.

Cứu ngải trên mặt thường không sử dụng cứu trực tiếp để tránh bỏng, để lại sẹo làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Có thể sử dụng cứu treo, cứu mổ cò. Đối với những trường hợp liệt mặt khó chữa mà áp dụng cứu trực tiếp, cần phải sử dụng các phương pháp như cứu cách gừng hoặc tự làm bánh thuốc để lót. Cứu ngải trên mặt còn có một phương pháp đặc biệt là “cứu bằng ống sậy”, là một phương pháp cứu cách vật sử dụng ống sậy đưa sâu vào ống tai ngoài.

Vật liệu để cứu cách vật nên tránh sử dụng các chất liệu quá kích thích và gây phồng rộp, để không tạo ra các vết sẹo khó lành ảnh hưởng đến chức năng cơ và thẩm mỹ của bệnh nhân. Sau khi cứu ngải, nếu xuất hiện đau tức tại chỗ, hoặc sắc tố da hơi sẫm màu nhẹ thường là hiện tượng bình thường, không cần xử lý đặc biệt, đợi nó tự biến mất. Cứu ngải trên mặt phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thao tác, phải phòng tránh bỏng rộp ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Sau khi cứu ngải, có thể bổ sung nước một cách thích hợp, chú ý phòng寒保暖, tránh gió, để không ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị hoặc làm bệnh nặng thêm.

87. Làm thế nào để dùng xoa bóp bấm huyệt điều trị liệt mặt?

Trong giai đoạn phục hồi của liệt mặt, cũng có thể áp dụng phương pháp xoa bóp để phục hồi chức năng tại chỗ. Khi điều trị, bệnh nhân nằm ngửa trên giường, bác sĩ ngồi bên cạnh hoặc ở phía đầu bệnh nhân, có thể sử dụng thủ pháp day hoặc nhất chỉ thiền tại các huyệt bên bệnh như Ấn Đường, Tinh Minh, Toản Trúc, Ngư Yêu, Ty Trúc Không, Đồng Tử Liêu, Tứ Bạch, Quyền Liêu, Dương Bạch, Nghinh Hương, Hạ Quan, Giáp Xa, Địa Thương, Đại Nghinh, Phong Trì, Ế Phong, Hợp Cốc.

Cũng có thể thực hiện xoa bóp theo kinh mạch. Trước khi thực hiện, có thể bôi dầu bôi trơn lên mặt bệnh nhân hoặc tay bác sĩ để dễ thao tác. Xoa bóp theo kinh mạch có thể dọc theo đường đi của các cơ bị bệnh hoặc cơ biểu cảm trên mặt, theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, đẩy thẳng hoặc đẩy xoay, sau đó phối hợp với thủ pháp xát. Khi xoa bóp, chú ý dùng lực vừa phải, đến khi tại chỗ có cảm giác tê tức hoặc hơi nóng đỏ là được, nên tránh quá nhẹ không có hiệu quả, hoặc dùng lực quá mạnh gây tổn thương thêm cho mô tại chỗ.

Điều trị bằng xoa bóp cũng có thể được sử dụng cùng với các liệu pháp khác. Sau khi điều trị, cũng có thể hướng dẫn bệnh nhân đứng trước gương, tự học cách phối hợp với các phương pháp tập luyện chức năng đúng đắn để tăng cường hiệu quả, thúc đẩy bệnh nhân sớm phục hồi.

88. Bệnh nhân liệt mặt tự xoa bóp và tập luyện như thế nào?

Việc bệnh nhân liệt mặt nắm vững các phương pháp tự xoa bóp và tập luyện chức năng đúng đắn chiếm một vị trí quan trọng trong việc phục hồi chức năng liệt mặt. Khi liệt mặt bước vào giai đoạn phục hồi, bệnh nhân có thể bắt đầu tự tập luyện chức năng.

Điều đầu tiên cần lưu ý là việc tự điều trị này phải được thực hiện trước gương. Phục hồi chức năng trước gương giúp bệnh nhân quan sát kịp thời những thay đổi trong vận động cơ, và giúp bệnh nhân tái thiết lập sự phối hợp giữa não bộ và vận động cơ mặt, có vai trò quan trọng trong việc rút ngắn bệnh trình và giảm thiểu di chứng.

Các động tác cụ thể có thể được chia thành hai phần: xoa bóp và tập luyện động tác.

Xoa bóp: Có thể áp dụng các phương pháp như miết vòng quanh hốc mắt, day xát cánh mũi, đẩy kéo cơ trán lên trên, đẩy kéo cơ vùng gò má và má lên trên, miết từ khóe miệng xuống dọc theo cơ bám da cổ về phía trước cổ. Cũng có thể dùng một lực nhất định để day ấn các huyệt vị tại chỗ như Ấn Đường, Tinh Minh, Toản Trúc, Ngư Yêu, Ty Trúc Không, Đồng Tử Liêu, Tứ Bạch, Quyền Liêu, Dương Bạch, Nghinh Hương, Hạ Quan, Giáp Xa, Địa Thương, Đại Nghinh, Phong Trì, Ế Phong, Hợp Cốc. Chủ yếu là day ấn mặt bên bệnh, cũng có thể day ấn cả hai bên để hỗ trợ điều trị.

Tập luyện động tác: Sau khi xoa bóp xong, có thể tập trước gương các động tác như nhướng mày, cau mày, chớp mắt, nhăn mũi, nhe răng, chu môi, phồng má, huýt sáo. Cũng có thể phối hợp với các phương pháp như cạo gió bằng miếng cạo hoặc chải đầu bằng lược.

Khi cơ mặt không cử động hoặc chỉ có thể cử động rất nhẹ, việc tập luyện nên tập trung vào vận động thụ động, tức là chủ yếu dùng xoa bóp để hỗ trợ vận động cơ mặt. Khi sức cơ tăng lên, bệnh nhân có thể làm các biểu cảm nhưng không hoàn toàn, và sự chênh lệch giữa hai bên còn nhiều, việc tập luyện nên tập trung vào vận động chủ động, tức là chủ yếu làm các động tác biểu cảm trên mặt. Khi sức cơ phục hồi đến bậc 4-5, việc tập luyện nên dùng ngón tay tạo một lực cản nhất định cho cơ, lấy vận động kháng trở làm bài tập chính.

Khi bước vào giai đoạn phục hồi của liệt mặt, các bài tập nên được bắt đầu càng sớm càng tốt, kiên trì tập luyện trong suốt quá trình bệnh. Chú ý thao tác với lực độ vừa phải, chỉ cần đạt được mục đích rèn luyện và phục hồi là được. Điều quan trọng là kiên trì mỗi ngày, không nên vì nóng vội mà dùng lực quá lớn, gây ra tổn thương thứ cấp không cần thiết cho các cơ mặt.

89. Làm thế nào để dùng phương pháp giác hơi điều trị liệt mặt?

Trong giai đoạn phục hồi của liệt mặt, có thể áp dụng phương pháp giác hơi tại vùng bệnh để điều trị. Những người bị ứ trệ tại chỗ nghiêm trọng có thể phối hợp với liệu pháp chích lể. Lão trung y Khúc Tổ Di ở Bắc Kinh đã phát minh ra phương pháp giác hơi nhanh (thiểm quán pháp), cũng thường được sử dụng trong giai đoạn phục hồi của liệt mặt. Phương pháp này áp dụng cách giác rồi lấy ra ngay, lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi da hơi đỏ. Liệu pháp này vừa có tác dụng điều trị, vừa tránh để lại các vết bầm tím trên mặt, cũng được sử dụng khá nhiều trong điều trị liệt mặt bằng giác hơi.

Khi sử dụng giác hơi lửa để điều trị liệt mặt, cần nắm vững quy trình thao tác, tránh làm bỏng bệnh nhân trong quá trình giác. Thời gian lưu cốc phải phù hợp, không nên quá lâu để gây phồng rộp, càng không nên lưu cốc quá lâu để lại tổn thương khó lành. Sau một lần điều trị, có thể đợi cho màu sắc mờ đi rồi mới làm lần tiếp theo, hoặc mỗi lần điều trị chọn các vị trí khác nhau.

90. Làm thế nào để dùng phương pháp xông hơi thuốc YHCT điều trị liệt mặt?

Trong giai đoạn phục hồi của liệt mặt, có thể chọn các loại bột thuốc hoặc rượu thuốc YHCT có tác dụng (thư cân hoạt lạc), đun lên và dùng hơi thuốc bốc lên để xông vùng mặt bên bệnh. Sau khi xông, có thể dùng khăn hoặc chăn mỏng đắp lên người bệnh nhân, để họ ra mồ hôi nhẹ, thời gian điều trị khoảng 20-30 phút. Khi sử dụng phương pháp này, chú ý không được quá nóng hoặc ra mồ hôi quá nhiều, chỉ cần bệnh nhân ra mồ hôi nhẹ là được. Có thể điều trị lặp đi lặp lại nhiều lần, tránh thời gian điều trị quá dài làm bệnh nhân suy kiệt. Trong quá trình điều trị, cần chú ý hỏi bệnh nhân về nhiệt độ và cảm giác, quan sát trạng thái ý thức của bệnh nhân để tránh các sự cố không mong muốn.

91. Có những phương pháp đắp thuốc ngoài da nào có thể điều trị liệt mặt?

Đắp thuốc ngoài da để điều trị liệt mặt có thể sơ thông khí huyết tại chỗ, đẩy nhanh quá trình phục hồi. Trên lâm sàng, các loại thuốc và phương pháp đắp ngoài da được sử dụng rất đa dạng dựa trên kinh nghiệm, thuốc YHCT chủ yếu là các loại thuốc có tác dụng khu phong thông lạc, hoạt huyết hóa ứ. Gần đây, cũng có việc dán các loại cao dán Tây y có tác dụng chống viêm giảm đau (như cao dán flurbiprofen, loxoprofen, v.v.) tại chỗ, có ý nghĩa điều trị tích cực trong việc loại bỏ phù nề tại chỗ giai đoạn sớm. Chỉ cần lựa chọn thuốc đúng đắn, phương pháp đắp ngoài da phù hợp với tất cả các giai đoạn điều trị liệt mặt. Phương pháp này cũng có hiệu quả nhất định đối với co thắt cơ mặt. Tất nhiên, liệt mặt là một bệnh phức tạp, đa số trường hợp, điều trị bằng đắp thuốc chỉ có tác dụng hỗ trợ, việc dùng thuốc cụ thể vẫn cần được thực hiện dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

92. Các phương pháp vật lý trị liệu thường dùng cho liệt mặt là gì?

Trong các giai đoạn điều trị liệt mặt, có thể lựa chọn các phương pháp như chiếu laser, điều trị bằng sóng siêu ngắn, chiếu đèn hồng ngoại, điều trị bằng vi sóng tùy theo tình trạng bệnh. Khoa phục hồi chức năng còn có các loại máy như máy điều trị điện từ, máy điều trị thần kinh, máy điện di thuốc, máy điều trị xung tần số thấp, máy điều trị tần số trung bình để lựa chọn.

Cần lưu ý rằng vật lý trị liệu cho liệt mặt thuộc loại điều trị thụ động, cần chú ý đến cường độ và thời gian kích thích dây thần kinh mặt, tránh cường độ quá lớn làm tổn thương thần kinh. Cần bắt đầu từ thời gian ngắn, liều lượng nhỏ. Nếu liều lượng nhỏ đã có hiệu quả thì không nên tiếp tục tăng liều, nhằm đạt được mục đích thúc đẩy phục hồi và giảm thiểu khả năng xảy ra di chứng.

93. Các triệu chứng sớm của di chứng liệt mặt là gì?

Khi một trong những triệu chứng sau xuất hiện, có nghĩa là bệnh nhân đã bước vào giai đoạn sớm của di chứng liệt mặt, cần phải điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời, đồng thời trừ những người có nhu cầu phẫu thuật, nên cố gắng tránh thực hiện các kiểm tra chẩn đoán điện:

  • Khe mắt bên bệnh nhỏ hơn bên lành.
  • Rãnh mũi má bên bệnh sâu hơn bên lành.
  • Xuất hiện triệu chứng đồng vận miệng-mắt.
  • Buổi sáng thức dậy có cảm giác mặt tê bì, cứng đờ, co rút hoặc co giật.
  • Khi ăn uống xuất hiện triệu chứng chảy nước mắt.

94. Tại sao oxy cao áp có thể điều trị di chứng liệt mặt?

Điều trị bằng oxy cao áp là một phương pháp điều trị giúp tăng nhanh áp suất riêng phần của oxy trong máu và tăng hàm lượng oxy trong mô. Phương pháp này là hít thở oxy tinh khiết trong một môi trường có áp suất lớn hơn một atmosphere, nhằm tăng hàm lượng oxy trong máu và độ khuếch tán oxy ở mao mạch. Nó có thể cải thiện việc cung cấp oxy cho thần kinh, thúc đẩy quá trình chuyển hóa của tế bào thần kinh, giảm phù nề tế bào thần kinh, là một phương pháp điều trị hỗ trợ khá hiệu quả trong các bệnh hệ thần kinh.

Điều trị bằng oxy cao áp có thể có tác dụng loại bỏ phù nề dây thần kinh mặt, đẩy nhanh quá trình hấp thu viêm. Nó còn có thể làm giảm sự kết tập tiểu cầu, duy trì cân bằng điện giải, cải thiện tuần hoàn máu và dinh dưỡng ở mặt, ngăn ngừa co thắt mạch máu, thúc đẩy sự phục hồi chức năng của dây thần kinh mặt. Do đó, đối với những bệnh nhân sau ba tháng tổn thương dây thần kinh mặt mà chức năng phục hồi không tốt, và không có chống chỉ định sử dụng oxy cao áp, có thể xem xét sử dụng liệu pháp này.

95. Khi bị liệt mặt xuất hiện “liệt mặt đảo ngược” thì điều trị như thế nào?

“Liệt mặt đảo ngược” (diện than đảo thác) là một thuật ngữ trong YHCT. Một khi xuất hiện, rất khó tự khỏi, thường xảy ra ở những bệnh nhân bị liệt mặt ngoại biên trên nửa năm, tổn thương dây thần kinh mặt nghiêm trọng, bệnh trình kéo dài không khỏi. Bệnh nhân cảm thấy các cơ mặt bên bệnh bị căng cứng hoặc các cơ bị liệt xuất hiện co thắt, bệnh nhân cảm thấy bên bệnh kéo bên lành, khi làm các động tác như nhe răng, khóe miệng có thể lệch rõ về bên bệnh.

Khi xuất hiện hiện tượng đảo ngược, thường kèm theo khe mắt bên bệnh thu hẹp, rãnh mũi má sâu hơn, cơ mặt cứng đờ, còn có thể kèm theo đồng vận cơ mặt. Cơ chế hình thành hiện tượng này hiện vẫn chưa rõ ràng. Một số kết quả nghiên cứu phỏng đoán rằng, cơ chế khả dĩ có liên quan đến sự xơ hóa một phần của các cơ biểu cảm, hoặc sự tái tạo không hoàn toàn của thần kinh dẫn đến trương lực cơ quá cao cũng là một nguyên nhân có thể.

Điều trị bệnh này đa phần lấy các phương pháp ngoại trị như châm cứu làm chính, đồng thời cũng có thể hỗ trợ bằng thuốc YHCT, xoa bóp, chích lể, cạo gió, giác hơi. Khi bệnh nhân tự tập luyện phục hồi, cần chú ý tập trước gương, lặp đi lặp lại để điều chỉnh các tín hiệu phản ứng không phối hợp giữa não bộ và cảm giác cơ mặt.

96. Khi bị liệt mặt xuất hiện “hội chứng đồng vận” thì điều trị như thế nào?

Hội chứng đồng vận sau khi bị liệt mặt là một trong những di chứng thường gặp. “Đồng vận” có nghĩa là khi bệnh nhân chớp mắt, có thể đồng thời kéo theo môi trên rung nhẹ; khi nhe răng hoặc cười, mí mắt tự động nhắm lại; khi ăn hoặc nhai, mắt bên bệnh chảy nước mắt (gọi là “dấu hiệu nước mắt cá sấu”); hoặc xuất hiện đỏ bừng da vùng thái dương, nóng hoặc ra mồ hôi tại chỗ (hội chứng tai-thái dương).

Cơ chế của hội chứng đồng vận là do sau khi tổn thương, các sợi thần kinh trong quá trình tái tạo đã mọc vào đường đi của các tế bào thần kinh lân cận, xảy ra sự tái tạo thần kinh sai hướng. Các dây thần kinh chi phối cơ mắt và các dây thần kinh chi phối cơ môi đã hợp nhất với nhau, dẫn đến rối loạn chi phối thần kinh. Sự xuất hiện của đồng vận có liên quan đến vị trí và mức độ nghiêm trọng của tổn thương dây thần kinh mặt khi phát bệnh, cũng không thể loại trừ khả năng một số bệnh nhân có sự phân bố thần kinh bẩm sinh khác biệt, do đó trong giai đoạn phục hồi dễ xuất hiện hội chứng đồng vận hơn.

Về tỷ lệ mắc hội chứng đồng vận, các kết quả thống kê nghiên cứu hiện tại có sự khác biệt lớn, các phân tích được đưa ra đều là giả thuyết. Thời gian xuất hiện của nó là khoảng 3 tháng sau khi tổn thương dây thần kinh mặt, khi thần kinh tái tạo rõ rệt. Giai đoạn nặng lên của nó là sau 2 năm liệt mặt, về cơ bản là nặng lên khi quá trình tái tạo thần kinh kết thúc, trường hợp nặng lên muộn nhất có thể xảy ra sau 40 tháng bị bệnh.

Do cơ chế gây bệnh không rõ ràng, việc điều trị hội chứng đồng vận khá khó khăn. Điều trị phẫu thuật của Tây y cho bệnh này hiệu quả không lý tưởng, hoặc không thể tiến hành phẫu thuật do khó xác định mục tiêu điều trị. Điều trị bảo tồn chủ yếu là châm cứu, cũng có thể phối hợp với tiêm huyệt, hoặc châm đao để giải phóng, nhưng những liệu pháp này đều thiếu bằng chứng y học dựa trên bằng chứng, thuộc loại điều trị tổng kết kinh nghiệm lâm sàng, thường được dùng để giảm triệu chứng chứ khó có thể đảm bảo chữa khỏi.

97. Trường hợp liệt mặt nào sau khi điều trị bảo tồn sẽ không có hiệu quả hoặc hiệu quả kém?

Tiên lượng của liệt mặt có liên quan mật thiết đến thể chất của bệnh nhân, tình hình phát bệnh, vị trí tổn thương và việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Nhìn chung, dây thần kinh bị thoái hóa càng nặng, triệu chứng lâm sàng càng rõ, biến chứng càng nhiều thì khả năng khỏi hoàn toàn càng thấp. Những trường hợp liệt mặt điều trị sau nửa năm không có hiệu quả cần được kiểm tra thêm. Một số học giả có thái độ tích cực hơn, cho rằng nếu điều trị bảo tồn trong vòng ba tháng không có hiệu quả thì nên xem xét phẫu thuật sau khi đã được đánh giá toàn diện.

Nói chung, những trường hợp khởi phát cấp tính, bệnh tiến triển nhanh, điều trị bằng thuốc giai đoạn sớm không kiểm soát tốt phù nề dây thần kinh, vị trí tổn thương ở hạch gối hoặc cao hơn thường có tiên lượng kém hơn. Tổn thương xảy ra ở mức thần kinh cơ bàn đạp hoặc thần kinh thừng nhĩ thường là tổn thương mức độ trung bình, xảy ra dưới lỗ trâm chũm đa phần là tổn thương nhẹ.

Giai đoạn sớm của bệnh không được điều trị chính quy hoặc tự xử lý dẫn đến phù nề dây thần kinh không được kiểm soát tốt làm chậm trễ bệnh tình, hoặc trong giai đoạn cấp tính sử dụng không đúng cách các phương pháp châm cứu, vật lý trị liệu, kích thích quá mạnh, đều có thể là nguyên nhân khiến hiệu quả điều trị không lý tưởng. Một yếu tố khác không thể bỏ qua là yếu tố thể chất của bệnh nhân, ví dụ như cơ sở cấu trúc sinh lý của thần kinh, thể chất già yếu, suy nhược, có các bệnh nền như tiểu đường, bệnh tim mạch vành, hoặc các yếu tố tâm lý khó loại bỏ như quá lo lắng, sợ hãi về điều trị và tiên lượng, tự phục hồi bằng các phương pháp không đúng cách, v.v. đều là những nguyên nhân có thể dẫn đến tiên lượng xấu.

106. Sau khi bị liệt mặt cần làm tốt công tác chăm sóc hàng ngày như thế nào?

Việc chăm sóc chung cho bệnh nhân liệt mặt là chú ý giữ ấm, tránh gió lạnh, đặc biệt chú ý giữ ấm vùng cổ và đầu. Khi trời lạnh ra ngoài nên đội mũ, quàng khăn và đeo khẩu trang. 7 ngày đầu là giai đoạn cấp tính, lúc này không nên làm các liệu pháp chườm nóng để tránh làm nặng thêm tình trạng phù nề. Sau khi phù nề giảm, có thể chườm nóng hoặc kết hợp với các bài tập tự phục hồi chức năng. Khi tự tập luyện chức năng, chú ý tập trước gương, các động tác và thủ pháp nên từ nhẹ đến nặng, tăng dần liều lượng.

Đối với trường hợp mắt nhắm không kín, cần chú ý bảo vệ mắt. Khi ra ngoài có thể đeo kính bảo hộ. Hàng ngày có thể nhỏ thuốc mắt để bảo vệ giác mạc, trước khi ngủ dùng thuốc mỡ mắt để bảo vệ, cũng có thể dùng gạc ẩm đắp lên mắt.

Về ăn uống, cần chú ý chế độ ăn cân bằng, dinh dưỡng toàn diện. Các loại thực phẩm giàu protein chất lượng cao như trứng, sữa, cá, tôm giúp cho sự phát triển của thần kinh, nên ăn một lượng vừa phải, không nên vì bệnh mà theo đuổi chế độ ăn thanh đạm và từ chối tất cả. Cần tránh ăn các loại thực phẩm cay nóng, sống lạnh, quá kích thích hoặc các loại thực phẩm dễ gây dị ứng.

Sau khi phát bệnh, cần chú ý nghỉ ngơi, đảm bảo sinh hoạt điều độ, ngủ đủ giấc. Bác sĩ và người nhà cần quan tâm, chăm sóc bệnh nhân, chú ý an ủi và giao tiếp, tránh để bệnh nhân vì căng thẳng, lo lắng mà ảnh hưởng đến việc phục hồi bệnh. Việc nhận thức đúng đắn về bệnh, tâm trạng bình tĩnh và xây dựng niềm tin vào điều trị là điều có lợi nhất cho sự phục hồi của bệnh.

Bạn Cần Tư Vấn Điều Trị Liệt Dây Thần Kinh Số 7?

Gọi ngay cho chúng tôi để được tư vấn miễn phí.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

https://www.uofmhealth.org/conditions-treatments/facial-nerve/faq-facial-nerve

https://xaszxyy.com/5/16629/content.aspx

https://uvahealth.com/services/facial-plastics/facial-paralysis-faqs

https://www.ucn.org.hk/zh-hans/health-education/health-article/cm-health-tips-94/?back=%2Fen%2Fhealth-education%2Fhealth-article%2F%3Fpage%3D21

http://www.sctcm120.com/info/1074/15749.htm

https://zyj.beijing.gov.cn/sy/whkp/202310/t20231030_3290437.html

https://www.zysdyrmyy.cn/show/1314.html

https://www.frontiersin.org/journals/neurology/articles/10.3389/fneur.2025.1516904/full

https://www.jinshishi.gov.cn/zwxx/ztzl/jkjyzl/content_134263

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/40826760/

https://www.gdhtcm.com/news/index_100000384076458.html

https://hnrb.huainannet.com/content/202503/04/content_181922.html

https://www.e-jar.org/journal/view.html?volume=37&number=4&spage=233

https://www.frontiersin.org/journals/neurology/articles/10.3389/fneur.2024.1450312/full

https://benhvienthammygangwhoo.vn/en/treat-facial-palsy-with-western-medicine/

https://ohns.ucsf.edu/facialnerve/facial-nerve-disorders/bells-palsy

https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC7133542/

https://patient.uwhealth.org/education/facial-nerve-paralysis-frequently-asked-questions

https://www.thomsonmedical.com/blog/treatment-for-bells-palsy

https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC11150695/

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

Tư vấn chuyên môn bài viết

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

chủ nhiệm phòng khám Đông y Sơn Hà. Hơn 20 năm hành nghề khám chữa bệnh y học cổ truyền. Phục hồi và điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân bị sụp mí mắt, mắt lác (lé), song thị, mắt lồi, tổn thương dây thần kinh, polyp…

Viết một bình luận