Danh Y Danh Phương: Bài Thuốc Ôn Thận Bổ Tỳ Chỉ Tả Hiệu Nghiệm Cho Bệnh Ngũ Canh Tả

Thầy thuốc Trương Cảnh Tổ (sinh tháng 8 năm 1959) là Viện trưởng Bệnh viện Y học Cổ truyền và Tây y kết hợp Trường Nguyên, tỉnh Hà Nam, đồng thời là Chủ nhiệm Y sĩ Đông y. Ông được công nhận là Danh y Đông y của tỉnh Hà Nam, Chuyên gia cao cấp Y học Cổ truyền tại cơ sở cấp quốc gia, và Phó Chủ tịch Phân hội Nghiên cứu Kỹ thuật Chẩn trị Dân gian Đặc sắc thuộc Hội Y học Cổ truyền Trung Quốc.

Với 40 năm kinh nghiệm lâm sàng, thầy thuốc Trương Cảnh Tổ đặc biệt giỏi trong việc ứng dụng các phương thuốc cổ điển (kinh phương) để điều trị các bệnh nội khoa khó chữa như viêm đại tràng mạn tính, các loại viêm dạ dày, loét dạ dày, đái tháo đường, bệnh thận cấp và mạn tính, cùng các trường hợp điều dưỡng sau phẫu thuật ung thư. Ông đã chủ biên hơn 10 tác phẩm, trong đó có cuốn “Kinh nghiệm lâm sàng và Kế thừa học thuật của Trương Hoa Phủ”, và công bố 56 bài báo khoa học.

Thành phần bài thuốc: Ôn Thận Bổ Tỳ Chỉ Tả Phương

  • Bào phụ phiến: 9g
  • Bào khương: 3g
  • Ba kích thiên: 12g
  • Bổ cốt chỉ: 12g
  • Ngũ vị tử: 6g
  • Đảng sâm: 15g
  • Bạch truật sao cám: 15g
  • Bạch biển đậu sao: 12g
  • Hoài sơn sao cám: 15g
  • Cam thảo sao: 3g

Công năng

Ôn bổ Mệnh Môn, bồi thổ kiện Tỳ.

Chủ trị

Ngũ canh tả (tiêu chảy sáng sớm, trước rạng đông). Bệnh thường có quá trình diễn biến kéo dài, hay gặp ở những bệnh nhân có triệu chứng Tỳ Thận dương hư rõ rệt. Các biểu hiện chính bao gồm tiêu chảy hoạt thoát, sợ lạnh chân tay, lưng gối mỏi mềm, và đại tiện ra thức ăn chưa tiêu hóa (hoàn cốc bất hóa).

Giải thích bài thuốc

Ngũ canh tả, còn gọi là “kê minh tả” (tiêu chảy gà gáy), “thần tả” (tiêu chảy buổi sáng) hay “thận tả”, là một dạng tiêu chảy có quy luật thời gian rõ ràng, đặc trưng bởi việc đau bụng quanh rốn, sôi bụng và đi ngoài ngay vào thời điểm ngũ canh (khoảng 3-5 giờ sáng), sau khi tiêu chảy thì bệnh nhân cảm thấy dễ chịu. Phân thường lỏng hoặc hoàn toàn không tiêu hóa, kèm theo các triệu chứng như sợ lạnh chân tay, lưng gối mỏi mềm.

Bản chất của ngũ canh tả là Tỳ Thận dương hư, âm hàn nội thịnh, khí hư hàn trong cơ thể hoành hành, dẫn đến chức năng vận hóa và cố nhiếp bị rối loạn. Bệnh vị chủ yếu tại Tỳ, Thận và Đại tràng, thuộc thể lý, hư, hàn. Phương pháp điều trị kinh điển là ôn thận noãn tỳ (làm ấm thận và tỳ), cố sáp chỉ tả (củng cố và cầm tiêu chảy).

Bài thuốc này bám sát vào cơ chế bệnh sinh cốt lõi của ngũ canh tả: Tỳ Thận dương hư, Mệnh Môn hỏa suy, chức năng vận hóa và cố nhiếp bị mất. Nguyên tắc lập phương chủ yếu là ôn bổ dương khí Tỳ Thận, hỗ trợ kiện Tỳ ích khí, đồng thời sáp trường chỉ tả. Trong phương:

  • Các vị thuốc Bổ cốt chỉ, Ba kích thiên, Phụ tử có tác dụng ôn thận tráng dương, bổ hỏa sinh thổ để trị gốc.
    • Trong đó, Bổ cốt chỉ là quân dược (chủ dược), đi vào kinh Thận và Tỳ, giỏi bổ Mệnh Môn hỏa, ôn Tỳ dương để cầm tiêu chảy, là thuốc thiết yếu điều trị tiêu chảy do Thận dương hư suy.
    • Ba kích thiên phụ trợ Bổ cốt chỉ bổ Thận dương, cường cân cốt, tán hàn thấp, tăng cường lực ôn thận tráng dương.
    • Phụ tử có tính đại tân đại nhiệt (rất cay rất nóng), hồi dương cứu nghịch (hồi phục dương khí cấp cứu), bổ hỏa trợ dương, hiệp đồng với Bổ cốt chỉ, Ngũ vị tử, Ba kích thiên để thu liễm cố sáp, đánh thẳng vào gốc rễ của Mệnh Môn hỏa suy.
  • Các vị thuốc Đảng sâm, Bạch truật sao cám, Hoài sơn sao cám, Bạch biển đậu sao, Bào khương có tác dụng kiện Tỳ ích khí, ôn vận trung tiêu để củng cố gốc bệnh.
    • Trong đó, Đảng sâm bổ trung ích khí, kiện Tỳ ích Phế, phục hồi chức năng vận hóa thủy cốc của Tỳ Vị trung tiêu.
    • Bạch truật sao cám kiện Tỳ ích khí, táo thấp lợi thủy, phối hợp với Đảng sâm tăng cường lực bổ Tỳ ích khí.
    • Hoài sơn sao cám ích khí dưỡng âm, bổ Tỳ Phế Thận, sáp tinh chỉ đới. Sau khi sao cám, tác dụng kiện Tỳ chỉ tả được tăng cường, vừa trợ Đảng sâm, Bạch truật bổ Tỳ ích khí, vừa kiêm cố Tỳ âm.
    • Bạch biển đậu sao kiện Tỳ hóa thấp, hòa trung tiêu thử. Sao lên tăng cường công năng kiện Tỳ chỉ tả, trợ Bạch truật kiện Tỳ hóa thấp, loại bỏ thấp trọc nội sinh do Tỳ hư.
    • Bào khương ôn trung tán hàn, giỏi đi vào Tỳ Vị trung tiêu, ôn Tỳ dương, tán hàn ngưng, chỉ lãnh thống lãnh tả (cầm đau lạnh và tiêu chảy do lạnh), là thuốc then chốt trong việc ôn vận Tỳ dương ở trung tiêu, tạo thành sự hô ứng với Phụ tử ôn Thận dương ở hạ tiêu.
  • Cam thảo sao điều hòa các vị thuốc.

Gia giảm

Tùy theo tình trạng bệnh, có thể gia giảm các vị thuốc sau:

  • Nếu tiêu chảy lâu ngày dẫn đến hoạt thoát không cầm, tiêu chảy không ngừng: thêm Xích thạch chi, Vũ dư lương, Uy nhục đậu khấu để sáp trường cố thoát, thu liễm chỉ tả.
  • Nếu Thận dương hư suy nghiêm trọng, sợ lạnh chân tay: thêm Nhục quế, Ngô thù du để dẫn hỏa quy nguyên, ôn Can noãn Thận.
  • Nếu đau bụng rõ rệt, ruột sôi sùng sục: thêm Mộc hương, Sa nhân để hành khí điều trung chỉ thống, ôn trung hóa thấp.
  • Nếu có kèm thấp trọc nội trở, rêu lưỡi trắng dày nhờn: thêm Thương truật, Phục linh, Ý dĩ nhân để kiện Tỳ thẩm thấp chỉ tả.
  • Nếu kèm theo Can khí uất kết, tình chí buồn bực hoặc nặng hơn khi căng thẳng: thêm bài thuốc Thống tả yếu phương (Bạch thược, Trần bì, Phòng phong) để sơ Can lý Tỳ, thăng thanh chỉ tả.
  • Nếu kèm theo Thận hư tinh suy, lưng gối mỏi mềm: thêm Sinh khiếm thực, Dâm dương hoắc, Đỗ trọng sao để bổ Can Thận, cường cân cốt, ích tinh điền tủy.

(Bài viết được biên soạn bởi Lý Thần Thần, Bệnh viện Y học Cổ truyền và Tây y kết hợp Trường Nguyên, tỉnh Hà Nam)

(Lưu ý: Các bài thuốc và phương pháp điều trị nêu trong bài cần được sử dụng dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc.)

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

Tư vấn chuyên môn bài viết

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

chủ nhiệm phòng khám Đông y Sơn Hà. Hơn 20 năm hành nghề khám chữa bệnh y học cổ truyền. Phục hồi và điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân bị sụp mí mắt, mắt lác (lé), song thị, mắt lồi, tổn thương dây thần kinh, polyp…

Viết một bình luận