Tổng quan huyệt Trung Phủ
- Ký hiệu: LU01
- Vị trí: Ở phần trên ngoài của thành ngực trước, tại khe liên sườn 1, cách đường giữa ngực (Mạch Nhâm) 6 thốn.
- Kinh lạc trực thuộc: Kinh Thủ Thái Âm Phế
- Tên gọi khác: Ưng Trung Ngoại Du (膺中外俞), Ưng Du (膺俞), Ưng Trung Du (膺中俞), Phế Mộ (肺募), Phủ Trung Du (府中俞)
- Thuộc tính Ngũ Du Huyệt: Mộ huyệt (của Phế)
- Các thẻ liên quan: Mộ huyệt, Hóa đàm, Kiện tỳ, Lợi thủy, Bình suyễn, Hành khí, Khoan hung (làm rộng lồng ngực), Giải biểu, Tiêu trướng.
- Có thể cứu (灸).
“Trung” (中) chỉ Trung tiêu, trung khí. “Phủ” (府) là nơi tụ hội. Ý nghĩa của tên huyệt là mạch của kinh Thủ Thái Âm Phế bắt nguồn từ Trung tiêu, và huyệt này là nơi khí của trời đất (tức trung khí) tụ hội. Đồng thời, đây cũng là Mộ huyệt của Phế, tức là nơi tạng khí của Phế tụ tập. Phế và Tỳ hợp khí tại Tâm, do đó có tên là “Trung Phủ”. Huyệt nằm ở hai bên ngực trước, nên còn có tên gọi là “Ưng Du” hay “Ưng Trung Du”.
Vị trí Giải phẫu
Bên dưới huyệt vị lần lượt là da, tổ chức dưới da, mạc cơ ngực, cơ ngực lớn và cơ ngực bé.
- Vùng da được chi phối bởi nhánh giữa của thần kinh trên đòn từ đám rối cổ.
- Trong tổ chức dưới da có các nhánh tận cùng của động mạch ngực – mỏm cùng vai; các nhánh này xuyên qua cơ ngực và mạc cơ để đến tổ chức dưới da và lớp da.
- Mạc cơ ngực bao phủ cơ ngực lớn và cơ ngực bé.
- Giữa hai lớp cơ này có thần kinh ngực trước từ đám rối cánh tay và nhánh cơ ngực của động mạch ngực – mỏm cùng vai, chịu trách nhiệm chi phối vận động và cung cấp dinh dưỡng cho hai cơ này.
Phương pháp Châm cứu
- Châm thẳng 0.3 – 0.5 thốn, có cảm giác căng tức tại chỗ.
- Châm xiên ra ngoài 0.5 – 0.8 thốn, có cảm giác căng tức tại chỗ, cảm giác châm có thể lan tỏa ra vùng ngực trước và chi trên. Không được châm sâu vào phía trong để tránh làm tổn thương Phế tạng.
- Sách “Tố Vấn – Thích Cấm Luận” (素問·刺禁論): “Thích Ưng trung hãm trung Phế, vi suyễn nghịch ngưỡng tức” (Châm vào giữa ngực, lún sâu vào Phế sẽ gây suyễn, khó thở phải ngửa mặt lên).
- Sách “Châm Cứu Đại Thành” (針灸大成): “Châm 3 phân, lưu kim 5 hơi thở, cứu 5 tráng.”
Lưu ý Quan trọng
- Không được châm sâu vào phía trong để tránh làm tổn thương Phế tạng.
- Phần cơ bên dưới huyệt Trung Phủ tương đối mỏng, khi chăm sóc sức khỏe hàng ngày không nên dùng lực quá mạnh. Chỉ cần dùng lực nhẹ nhàng ấn day trong 1-2 phút, cũng có thể gõ hoặc vỗ nhẹ.
Vai trò huyệt Trung Phủ
Huyệt Trung Phủ thuộc kinh Thủ Thái Âm Phế, là Mộ huyệt của Phế, và là huyệt hội của kinh Thủ Thái Âm và Túc Thái Âm. Công năng chính bao gồm: thông kinh hoạt lạc, sơ tán phong nhiệt, túc giáng phế khí, hòa vị lợi thủy, chỉ khái bình suyễn (giảm ho, dịu hen), thanh tả phế nhiệt, kiện tỳ bổ khí.
Các nghiên cứu hiện đại phát hiện rằng châm huyệt Trung Phủ có thể làm giảm co thắt cơ trơn phế quản, cải thiện dung lượng thông khí của phổi, giảm nhẹ các triệu chứng hen suyễn. Ngoài ra, huyệt này còn có tác dụng tăng lưu lượng máu đến gan, cải thiện tuần hoàn máu ở gan. Huyệt Trung Phủ cũng có thể dùng để phòng và điều trị chứng đau thắt ngực (tâm giảo thống). Trong đại dịch COVID-19, nhiều người đã phát hiện ra rằng việc kích thích huyệt này và huyệt Vân Môn có thể làm tăng nồng độ oxy trong máu.
Huyệt Trung Phủ nằm gần xương đòn. Nhà vật lý trị liệu Nhật Bản, Tiến sĩ y khoa Yoshida Kazuya, trong cuốn sách bán chạy “Giải quyết cơn đau trong 5 giây! Ấn day xương đòn, loại bỏ đau mỏi vai, cổ, lưng, chấm dứt đau đầu” đã đề cập rằng xương đòn là cầu nối giữa cơ thể và cánh tay. Vùng quanh xương đòn là một con đường quan trọng của các dây thần kinh, mạch máu và mạch bạch huyết.
Một khi khu vực này bị chèn ép, nó sẽ ảnh hưởng đến tuần hoàn trong cơ thể, dẫn đến tê mỏi, đau nhức ở vai và cánh tay, ảnh hưởng đến các cơ lân cận, gây ra đau mỏi vai, cổ, lưng, và thậm chí có thể gây ra chứng đau đầu do căng thẳng.
Chỉ cần massage xương đòn là có thể làm giãn các cơ đang căng cứng, cải thiện tình trạng đau mỏi vai, cổ, lưng; thúc đẩy tuần hoàn máu và bạch huyết, loại bỏ phù nề, giúp chân tay không còn lạnh.
Người hiện đại sống trong thành phố, chất lượng không khí thường không tốt, dễ xuất hiện các triệu chứng như ho. Thường xuyên vỗ vào huyệt Trung Phủ và Vân Môn có thể giúp khai tuyên Phế khí, loại bỏ đờm ứ (đàm trọc).
Phối hợp Huyệt đạo (穴道配伍)
- Phối với Phong Môn, Hợp Cốc: Trị chứng hàn nhiệt, hầu tý (viêm họng).
- Giải thích: Phong Môn là Du huyệt ở lưng của kinh Bàng Quang, có tác dụng sơ phong giải biểu. Hợp Cốc là Nguyên huyệt của kinh Đại Trường, có tác dụng sơ thông kinh lạc, giải biểu tán hàn. Ba huyệt kết hợp giúp sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế lợi hầu, thích hợp cho các chứng hàn nhiệt, sưng đau họng do ngoại cảm phong nhiệt.
- Phối với Phế Du, Vân Môn, Thiên Phủ, Hoa Cái: Trị ho, hen suyễn do ngoại cảm.
- Giải thích: Phế Du là Du huyệt ở lưng của Phế. Vân Môn, Thiên Phủ đều là huyệt của kinh Phế. Hoa Cái là huyệt của kinh Thủ Dương Minh Đại Trường, có quan hệ biểu lý với kinh Phế. Sự phối hợp này có tác dụng hiệp đồng, giúp tuyên phế giải biểu, giáng khí bình suyễn, thích hợp cho ho và hen suyễn do ngoại cảm.
- Phối với Phục Lưu: Trị ho do phế táo nhiệt, ho khan do phế âm hư, lao phổi.
- Giải thích: Phục Lưu là huyệt của kinh Túc Thiếu Âm Thận, có công năng tư âm giáng hỏa. Trung Phủ phối với Phục Lưu có thể tư âm nhuận phế, giáng hỏa ở Phế, thích hợp cho các chứng âm hư hỏa vượng như ho do phế táo nhiệt, ho khan do phế âm hư.
- Phối với Xích Trạch: Trị ho.
- Giải thích: Xích Trạch là Lạc huyệt của kinh Thủ Thái Âm Phế, có công năng thanh nhiệt hóa đàm, tuyên phế chỉ khái. Cùng thuộc kinh Phế với Trung Phủ, khi phối hợp sử dụng sẽ tăng cường hiệu quả tuyên phế, giảm ho.
- Phối với Kiên Liêu: Trị đau vai.
- Giải thích: Kiên Liêu là huyệt của kinh Đởm. Sự phối hợp này chủ yếu nhắm vào các bệnh lý của kinh Phế khi đi qua vùng vai, giúp sơ thông kinh lạc, giảm đau vai.
- Phối với Ý Xá: Có tác dụng giáng khí khoan hung, chủ trị chứng ngực đầy tức.
- Giải thích: Ý Xá là huyệt của kinh Thủ Dương Minh Đại Trường, có quan hệ biểu lý với kinh Phế. Sự phối hợp này có thể hiệp đồng giáng khí, làm rộng lồng ngực, giảm bớt chứng ngực đầy, khí trệ.
- Phối với Dương Giao: Trị hầu tý (viêm họng).
- Giải thích: Dương Giao là huyệt của kinh Túc Thiếu Âm Thận, có liên quan đến chức năng tạng phủ với kinh Phế. Sự phối hợp này có thể thanh nhiệt lợi hầu, điều trị sưng đau họng.
- Phối với Định Suyễn, Nội Quan: Trị hen suyễn.
- Giải thích: Định Suyễn là huyệt của kinh Thủ Thái Âm Phế, Nội Quan là huyệt của kinh Thủ Quyết Âm Tâm Bào. Sự phối hợp này có thể bình suyễn, ninh tâm an thần, điều trị hen suyễn.
- Phối với Thiếu Xung: Trị đau tim, đau ngực.
- Giải thích: Thiếu Xung là Tỉnh huyệt của kinh Thủ Thiếu Âm Tâm. Sự phối hợp này chủ yếu được áp dụng cho chứng đau ngực liên quan đến tim và phổi, thông qua việc sơ thông kinh lạc để giảm đau.
- Phối với Gian Sử, Hợp Cốc: Trị phù mặt, phù bụng.
- Giải thích: Gian Sử là huyệt của kinh Thủ Dương Minh Đại Trường. Sự phối hợp này thông qua việc sơ thông kinh lạc, lợi thủy tiêu thũng, điều trị sưng phù ở mặt và bụng.
- Phối với Phế Du: Là phương pháp phối huyệt Du-Mộ, có tác dụng sơ phong giải biểu, tuyên phế chỉ khái, chủ trị ho ngoại cảm và ho nội thương.
- Giải thích: Đây là phương pháp phối huyệt Du-Mộ thường dùng, có thể tăng cường hiệu quả tuyên phế giảm ho, thích hợp cho nhiều loại ho khác nhau.
Các bệnh Chủ trị
- Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng:
- Lao phổi (Phế kết hạch)
- Sưng hạch bạch huyết
- Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa:
- Bướu cổ (Giáp trạng thũng)
- Suy giáp (Giáp trạng cơ năng giảm退)
- Bệnh tâm thần và hành vi:
- Chán ăn tâm thần
- Chứng ngủ rũ (Thị miên chứng)
- Bệnh hệ thần kinh:
- Chứng ngủ rũ (Thị miên chứng)
- Bệnh hệ tuần hoàn:
- Đau thắt ngực (Tâm giảo thống)
- Bệnh hệ hô hấp:
- Hen suyễn
- Viêm phổi
- Viêm mũi mạn tính
- Viêm thanh quản và khí quản mạn tính
- Viêm phế quản
- Phù phổi
- Cảm mạo
- Viêm họng cấp
- Bệnh da và tổ chức dưới da:
- Viêm da cơ địa
- Bệnh hệ cơ xương khớp và mô liên kết:
- Đau thần kinh tọa
- Đau khớp vai
- Đau lưng
- Ngón tay cò súng (扳机指 – Ban ky chỉ)
Cứu ngải và Cạo gió
Phương pháp cứu ngải huyệt Trung Phủ:
- Chuẩn bị điếu ngải hoặc hộp cứu ngải: Chọn loại điếu ngải hoặc hộp cứu phù hợp, đảm bảo điếu ngải cháy ổn định và hộp cứu có đủ lỗ thông hơi.
- Đốt điếu ngải hoặc khởi động hộp cứu: Đốt điếu ngải cho đến khi khói tỏa ra đều, hoặc bật hộp cứu và đặt lên trên huyệt Trung Phủ.
- Thực hiện cứu: Giữ điếu ngải hoặc hộp cứu cách huyệt Trung Phủ khoảng 2-3 cm, tạo cảm giác ấm nóng vừa phải, tránh gây bỏng. Mỗi lần cứu 10-15 phút, mỗi ngày có thể cứu 1-2 lần.
- Quan sát phản ứng: Trong quá trình cứu, chú ý quan sát phản ứng của cơ thể. Nếu có cảm giác quá nóng, đau hoặc các triệu chứng khó chịu khác, cần ngừng cứu ngay lập tức.
- Kết thúc cứu: Sau khi cứu xong, dùng khăn ẩm lau sạch da và chú ý giữ ấm.
Phương pháp chiếu đèn hồng ngoại xa vào huyệt Trung Phủ:
- Chuẩn bị thiết bị hồng ngoại xa: Sử dụng thiết bị chiếu hồng ngoại chuyên dụng, chẳng hạn như “thần đăng”, đảm bảo an toàn và đáng tin cậy.
- Điều chỉnh nhiệt độ: Cài đặt nhiệt độ của thiết bị trong khoảng dễ chịu, thường là 40-45 độ C, tránh nhiệt độ quá cao gây bỏng.
- Thời gian chiếu: Hướng thiết bị vào huyệt Trung Phủ, mỗi lần chiếu 10-15 phút, mỗi ngày có thể chiếu 1-2 lần.
- Quan sát phản ứng: Trong quá trình chiếu, chú ý quan sát phản ứng của cơ thể. Nếu có cảm giác quá nóng, đau hoặc khó chịu, cần ngừng chiếu ngay.
- Kết thúc chiếu: Sau khi chiếu xong, dùng khăn ẩm lau sạch da và chú ý giữ ấm.
Lưu ý:
- Trong quá trình cứu hoặc chiếu đèn, cần tránh tiếp xúc với vùng da xung quanh huyệt Trung Phủ để phòng bỏng.
- Sau khi thực hiện xong, cần chú ý giữ ấm, tránh bị nhiễm lạnh.
- Phụ nữ có thai, phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt, người có làn da nhạy cảm, người mắc bệnh ngoài da nên thận trọng khi sử dụng phương pháp cứu ngải hoặc chiếu hồng ngoại.
- Nếu có các bệnh lý khác hoặc triệu chứng khó chịu, cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên môn trước khi thực hiện.
Massage và Bấm huyệt
Phương pháp massage huyệt Trung Phủ:
- Các bước chính:
- Ấn day:
- Dùng ngón trỏ và ngón giữa đặt cạnh nhau, ngón trỏ ấn vào huyệt Vân Môn ở trên, ngón giữa ấn vào huyệt Trung Phủ ở dưới.
- Dùng lực nhẹ nhàng, ấn day trong 1-2 phút.
- Kéo véo:
- Dùng ngón trỏ và ngón cái véo nhẹ vùng da xung quanh huyệt Trung Phủ, duy trì trong 1-2 phút.
- Vỗ:
- Miệng hơi mở, dùng tay trái vỗ vào huyệt Vân Môn và Trung Phủ bên phải, tay phải vỗ vào bên trái.
- Lòng bàn tay và các ngón tay phải cong lại thành hình cái bát rỗng, vỗ vào vị trí huyệt Trung Phủ và Vân Môn 10 lần.
- Ấn day:
- Lưu ý:
- Khi massage, không được ấn sâu vào phía trong để tránh làm tổn thương Phế tạng.
- Phần cơ bên dưới huyệt Trung Phủ khá mỏng, khi massage chăm sóc sức khỏe hàng ngày không nên dùng lực quá mạnh, chỉ cần tác động nhẹ nhàng là đủ.
Trích lục từ Kinh điển Y học Cổ đại
- “Hoàng Đế Nội Kinh – Linh Khu” (黃帝內經-靈樞): “Tà ở Phế, thì bệnh da dẻ đau, hàn nhiệt, thượng khí gây suyễn, ra mồ hôi, ho làm động đến vai lưng, lấy huyệt ở Ưng Trung Ngoại Du, ở lưng đốt thứ ba bên cạnh Ngũ tạng, dùng tay ấn nhanh vào đó, thấy dễ chịu thì mới châm, lấy huyệt ở Khuyết Bồn để dẫn tà khí ra ngoài.” […Nguyên văn]
- “Châm Cứu Giáp Ất Kinh” (針灸甲乙經): “Phế hệ co rút, đau trong ngực, sợ lạnh, ngực đầy uất ức, hay nôn ra dịch đắng, trong ngực nóng, suyễn, khí nghịch đuổi nhau, nhiều đờm dãi浊 (trọc), không thở được, vai lưng trúng phong, ra mồ hôi, mặt và bụng phù, nghẹn ở cơ hoành, không ăn uống được, hầu tý (viêm họng), thở gấp vai nhô cao, phế trướng, da xương đau nhức, hàn nhiệt phiền mãn, Trung Phủ chủ trị các chứng đó.” […Nguyên văn]
- “Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương” (備急千金要方): “Thượng khí ho suyễn, hơi thở ngắn, khí đầy, ăn không xuống, cứu Mộ huyệt của Phế năm mươi tráng.” […Nguyên văn]
- “Châm Cứu Đại Thành” (針灸大成): “Chủ trị bụng trướng, tứ chi phù thũng, ăn không xuống, suyễn, ngực đầy, đau vai lưng, nôn ọe, ho nghịch thượng khí, Phế hệ co rút, Phế hàn nhiệt, ngực kinh sợ, đởm nhiệt nôn nghịch, ho khạc đờm dãi浊涕 (trọc tỵ), trúng phong ra mồ hôi, da đau mặt phù, hơi thở ngắn không nằm được, thương hàn ngực nóng, phi thi độn chú, bướu cổ.”

