Can Huyết Ứ Trệ

Trong hệ thống lý luận của Y học cổ truyền, Can Huyết Ứ Trệ là một hội chứng bệnh lý phổ biến, xảy ra khi chức năng sơ tiết của tạng Can bị rối loạn, khiến cho huyết dịch tại Can và các kinh lạc liên quan bị ngưng trệ. Tình trạng này là nguyên nhân gốc rễ của nhiều chứng bệnh với biểu hiện đặc trưng như đau nhói cố định, u cục, ở phụ nữ thường gây đau bụng kinh, kinh nguyệt có máu cục. Bài viết sẽ phân tích sâu hơn về nguyên nhân, các triệu chứng điển hình và pháp trị cơ bản của hội chứng này theo lăng kính Đông y.

Hội chứng Can Huyết Ứ Trệ trong Y học Cổ truyền

Các hội chứng đồng danh:

  • Can Khí Ứ Trệ (肝氣瘀滯)
  • Can Kinh Ứ Trệ (肝經瘀滯)

Chứng Can Huyết Ứ Trệ, là hội chứng gây ra do chức năng “Can chủ sơ tiết” bị rối loạn trong thời gian dài, dẫn đến “Can khí uất kết” kéo dài, khiến huyết hành không thông暢, gây ứ trệ ở kinh lạc.

Y học Cổ truyền cho rằng, Can là “phủ của huyết” (血之府), chủ về tàng huyết và điều huyết. Can khí uất kết có thể dẫn đến huyết hành không thông暢, ứ trệ ở kinh lạc, hình thành chứng Can Huyết Ứ Trệ.

Nguyên nhân của chứng Can Huyết Ứ Trệ chủ yếu là do tình chí không thông suốt, dẫn đến Can khí uất kết. Ăn uống không điều độ, dẫn đến đàm thấp nội trở. Lao lực quá độ, dẫn đến khí huyết khuy hư. Ngoại thương do té ngã, dẫn đến ứ huyết nội đình (ứ huyết đọng lại bên trong).

Các triệu chứng thường gặp của chứng Can Huyết Ứ Trệ là: sắc mặt xanh đen, đau vùng thượng vị (vị quản), vùng liên sườn và hạ sườn, kèm theo bụng trướng, dễ mệt mỏi, ăn uống kém, chất lưỡi đỏ tối, rìa lưỡi có điểm ứ huyết, chất lưỡi tím tối, mạch huyền sáp.

Những người có tâm trạng u uất kéo dài dễ xuất hiện Can Huyết Ứ Trệ

Cảm giác đau ở vùng liên sườn này là đau nhói như kim châm, vị trí cố định không di chuyển, về đêm đau nhiều hơn, nếu sờ vào sẽ có cảm giác khối u báng (痞塊感). Người xưa còn gọi đây là “bệnh Tích Tụ” (積聚病) (chú thích: thuật ngữ cổ chỉ các khối u trong ổ bụng). Loại khối u báng này mềm mà không cứng, cố định không di chuyển, vừa trướng vừa đau.

Đây chính là tình trạng Can khí uất kết lâu ngày, kế đến là huyết ứ, lâu ngày không tan, tụ lại thành khối. Một số người cho rằng đây chính là nguyên nhân của ung thư. Phương pháp thường được sử dụng nhất hiện nay là “Hoạt huyết hóa ứ pháp” (活血化瘀法), bài thuốc thường dùng là “Huyết Phủ Trục Ứ Thang” (血府逐瘀湯) gia giảm.

Sau khi Can uất huyết ứ, Tỳ sẽ hư mà thấp nhiệt uẩn kết bên trong, cũng sẽ xuất hiện các bệnh về tỳ vị. Bệnh phụ khoa cũng thường gặp, trường hợp nghiêm trọng sẽ xuất hiện “Hoàng đản” (黃疸 – chứng vàng da).

Ứ huyết ở vùng ngực và mạng sườn cũng sẽ gây ra các bệnh về phổi. Y gia xưa là Vưu Tại Kinh (尤在涇) nói: “Nhiên can tuy trứ nhi phản chú ư phế, sở vị hoành chi vi bệnh” (然肝雖著而反注於肺,所謂橫之為病), nghĩa là “Tuy Can bị bệnh mà lại truyền ngược sang Phế, gọi là bệnh theo chiều ngang”. Can uất mà ứ, thường sẽ liên lụy đến Phế, gây ra các bệnh ở Phổi.

Khi Can Huyết Ứ Trệ phát triển đến mức nghiêm trọng nhất, sẽ xuất hiện “bệnh Cổ Trướng” (臌脹病) (chú thích: tương tự triệu chứng xơ gan cổ trướng hoặc ung thư gan giai đoạn cuối trong y học hiện đại). Lúc này, sắc mặt đen sạm, bụng to cứng đầy, tứ chi gầy mòn, khó thở không thể nằm, đại tiểu tiện không thông, chất lưỡi tím tối, mạch trầm huyền.

Chứng Can Huyết Ứ Trệ thường gặp trong các bệnh danh của Y học Cổ truyền như: “Hiếp thống” (脅痛 – đau hạ sườn), “Hoàng đản” (黃疸 – vàng da), “Tích Tụ” (積聚 – khối u trong bụng), “Can trứ” (肝著), “Cổ trướng” (臌脹 – bụng trướng nước).

Khí trệ huyết ứ kéo dài trong cơ thể rất dễ sinh ra khối u

Chứng này thường được thảo luận cùng với “chứng Ứ huyết của Dương Minh (Vị)” (陽明(胃)瘀血證), nguyên nhân là vì Can thuộc Quyết Âm, là tạng tàng huyết, còn Vị thuộc Dương Minh, là phủ đa khí đa huyết, cả hai khi phát bệnh đều dễ xuất hiện chứng ứ huyết.

Chứng Vị ứ huyết dễ xuất hiện đau dạ dày, trường hợp nghiêm trọng sẽ nôn ra máu màu tím đen, đại tiện màu đen. Chứng Can Huyết Ứ Trệ thì cơn đau xuất hiện ở vùng hạ sườn. Nếu bệnh ở Can phạm vào Vị, cũng sẽ xuất hiện chứng ứ huyết.

Bệnh Dương Minh sẽ xuất hiện hoàng đản, màu vàng tươi sáng như màu vỏ quýt, đây là do thấp nhiệt uất chưng trong cơ thể gây ra. Chứng Can Huyết Ứ Trệ cũng xuất hiện hoàng đản, nhưng đây là do ứ huyết gây ra thấp nhiệt uẩn kết, nên màu vàng da sẽ sẫm hơn.

Hiểu về Can Huyết Ứ Trệ từ góc độ Kinh lạc

Hội chứng Can Huyết Ứ Trệ
Hội chứng Can Huyết Ứ Trệ

5 nguyên nhân chính gây ra Can Huyết Ứ Trệ

  1. Tức giận, thịnh nộ
    Trong ngũ tạng, Can chủ về sơ tiết và chủ về sự tức giận, do đó cơn thịnh nộ dễ làm tổn thương Can, gây ra bất thường ở kinh Can.
  2. Thức khuya kéo dài hoặc rối loạn giấc ngủ
    Lý luận Trung y cho rằng “nhân ngọa tắc huyết quy can” (人臥則血歸肝), nghĩa là khi người ta nằm ngủ, huyết của ngũ tạng lục phủ đều quy về Can để giải độc. Nếu không ngủ, sẽ sinh ra nhiều loại bệnh tật.
  3. Tâm trạng u uất, tình chí không thư thái
    Người hiện đại thường do áp lực công việc lớn, gặp nhiều trắc trở mà tâm trạng u uất, hình thành nên bệnh về tình chí mà Trung y gọi là “Can khí uất kết”, tình trạng này sẽ nặng hơn khi có cơn tức giận bộc phát.
  4. Lao lực quá độ
    Người hiện đại thường có công việc bận rộn và áp lực lớn, thường xuyên tăng ca không nghỉ ngơi, buổi tối đến lúc cần nghỉ ngơi thì vẫn phải đi giao tế, xã giao, lâu ngày dẫn đến tình trạng lao lực quá độ.
  5. Trật đả tổn thương (Té ngã chấn thương)
    Trật đả tổn thương là chỉ những tổn thương ở các tổ chức như gân cốt, cơ bắp, khớp… của cơ thể do tác động của ngoại lực như té ngã, va đập, ngã gây thương tích. Các triệu chứng thường gặp của trật đả tổn thương bao gồm: đau, đau nhói như kim châm, đau căng tức, sưng tấy, bầm tím, hạn chế vận động.

Thiệt tượng và Mạch tượng của Can Huyết Ứ Trệ

Thiệt tượng (Dạng lưỡi)

  • Lưỡi có màu tím
  • Trên mặt lưỡi có điểm ứ huyết (đốm, mảng tím)
  • Rêu lưỡi trắng mỏng

Mạch tượng (Dạng mạch)

  • Mạch Huyền
  • Mạch Sáp

Các triệu chứng lâm sàng hoặc bệnh lý của Can Huyết Ứ Trệ

  • Sắc mặt xanh
  • Sắc mặt sạm đen
  • Đầy hơi, trướng bụng
  • Thường xuyên mệt mỏi, buồn ngủ
  • Ăn uống kém
  • Đại tiện lỏng nát (phân溏)
  • Bụng to nhưng thân mình và tứ chi gầy gò
  • Kinh nguyệt không đều
  • Khó chịu vùng thượng vị
  • Trào ngược dạ dày thực quản
  • Đau dây thần kinh liên sườn
  • Loét dạ dày
  • Viêm dạ dày và tá tràng
  • Xơ gan mạn tính
  • Ung thư gan
  • Viêm gan mạn tính

Các hội chứng liên quan đến Can Huyết Ứ Trệ

  • Tỳ Vị thấp nhiệt
  • Đàm ứ hỗ kết (Đàm và ứ huyết kết lại với nhau)
  • Can khí uất kết
  • Can Vị bất hòa
  • Can hỏa phạm Vị
  • Khí trệ huyết ứ

Các bài thuốc thường dùng để cải thiện Can Huyết Ứ Trệ

  • Huyết Phủ Trục Ứ Thang (血府逐瘀湯)
  • Toàn Phúc Hoa Thang (旋覆花湯)
  • Kim Linh Tử Tán (金鈴子散)
  • Thất Tiếu Tán (失笑散)
  • Cách Hạ Trục Ứ Thang (膈下逐瘀湯)
  • Đào Hồng Tứ Vật Thang (桃紅四物湯)
  • Sơ Tạc Ẩm Tử (疏鑿飲子)
  • Đan Thất Tán (丹七散)

Các huyệt đạo thường dùng để cải thiện Can Huyết Ứ Trệ

  • Thái Xung (太衝) LV03
  • Kỳ Môn (期門) LV14
  • Túc Tam Lý (足三里) ST36
  • Chương Môn (章門) LV13
  • Đại Bao (大包) SP21
  • Hợp Cốc (合谷) LI04
  • Huyết Hải (血海) SP10
  • Dương Lăng Tuyền (陽陵泉) GB34
  • Tam Âm Giao (三陰交) SP06
  • Nội Quan (內關) PC06
  • Dũng Tuyền (湧泉) KI01
  • Lao Cung (勞宮) PC08

Các hình thái hoặc hiện tượng kinh lạc có thể có của Can Huyết Ứ Trệ

Sự hình thành của chứng Can Huyết Ứ Trệ rất dễ hiểu từ góc độ kinh lạc. Người hiện đại chỉ cần u uất hoặc tâm trạng không tốt kéo dài là rất dễ xuất hiện Can kinh thực chứng, Tỳ kinh hư chứng, đồng thời liên động đến Bàng Quang kinh hư chứng.

Hàng năm, từ cuối mùa đông đến mùa xuân năm sau là thời điểm năng lượng của kinh Can ở mức thấp nhất, lúc này cũng có khả năng xuất hiện chứng Can Huyết Ứ Trệ.

Nếu cộng thêm hàn khí trong cơ thể nặng, thì kinh Đởm, kinh Vị và kinh Thận cũng sẽ tham gia vào tình trạng này, lâu ngày hình thành một “hiện tượng thể chất tổng hợp”. Hình thái kinh lạc này dễ gây ra huyết ứ trong cơ thể nhất, kéo dài sẽ dẫn đến các bệnh biến ở Can Đởm, Phế, Tụy, Dạ dày, Đại tiểu trường… cuối cùng hình thành ung thư, khối u.

Hình thái Kinh lạcTần suất xuất hiện
Tỳ kinh, Bàng Quang kinh hư chứng; Can kinh, Vị kinh thực chứng; Tam Tiêu, Đại Trường kinh thực chứng (Biến thể của hình thái kinh lạc “Tam Giác Sắt”)Hình thái kinh lạc thường gặp vào mùa xuân hè, ở Bắc bán cầu khi nhiệt độ vượt quá 28°C, khoảng từ tháng 4-5 trở đi, hơn 50% người có khả năng xuất hiện hình thái này. Can kinh thực chứng, Tỳ kinh và Bàng Quang kinh hư chứng, cộng thêm kinh Thiếu Dương (kinh Đởm, kinh Tam Tiêu), kinh Dương Minh (kinh Đại Trường, kinh Vị) thực chứng. Đây là biến thể hóa nhiệt của hình thái kinh lạc “Tam Giác Sắt”. Cơ thể hỏa nhiệt và Can Tỳ bất hòa, vùng ngực uất nhiệt, khí huyết tuần hoàn kém. Bình thường chỉ cần ngủ muộn hoặc lao lực quá độ, mệt mỏi tích tụ lâu ngày cũng sẽ xuất hiện hình thái kinh lạc này.
Tỳ kinh + Bàng Quang kinh đồng thời hư chứng + Thận kinh hư chứng (Biến thể của hình thái kinh lạc “Tam Giác Sắt”)Hình thái kinh lạc thường gặp vào mùa xuân hè, ở Bắc bán cầu khi nhiệt độ vượt quá 28°C, khoảng từ tháng 4-5 trở đi, có khả năng xuất hiện hình thái này, kèm theo Thận kinh hư chứng. Đây là biến thể điển hình nhất trong “hình thái kinh lạc Tam Giác Sắt”, có thể xem là một dạng kinh lạc của Can, Tỳ, Thận bất hòa. Bình thường chỉ cần ngủ muộn hoặc lao lực quá độ, mệt mỏi tích tụ lâu ngày cũng sẽ xuất hiện hình thái kinh lạc này.
Đại Trường kinh, Tam Tiêu kinh hư chứng / Tỳ kinh và Bàng Quang kinh thực chứng / Đởm kinh, Vị kinh, Thận kinh hư chứng (Hình thái kinh lạc Dương hư do hàn)Hàng năm sau khi vào thu đông (tháng 10 ~ tháng 3 năm sau) dễ xuất hiện hình thái kinh lạc này, thời tiết càng lạnh thì tần suất xuất hiện càng cao hoặc mức độ càng nặng. Các kinh dương ở tay chân đồng thời xuất hiện hiện tượng dương hư do năng lượng không đủ, cơ thể biểu hiện trạng thái kinh lạc hàn khí nặng, dương hư rõ rệt (toàn bộ là dương hư).
Hình thái kinh lạc tổng hợpHình thái kinh lạc tổng hợp, thường là sự kết hợp của hình thái kinh lạc “Tam Giác Sắt” thường gặp vào mùa xuân hè và hình thái kinh lạc “Dương hư do hàn” thường gặp vào mùa thu đông. Đây là một trong những hình thái kinh lạc phổ biến nhất, có thể nói là hiện tượng thể chất của người hiện đại.
Tỳ kinh, Bàng Quang kinh hư chứng / Can kinh, Vị kinh thực chứng / Tâm kinh, Tâm Bào kinh hư chứng / Tam Tiêu, Đại Trường kinh thực chứng (Biến thể của hình thái kinh lạc “Tam Giác Sắt”)Hình thái kinh lạc thường gặp vào mùa xuân hè, ở Bắc bán cầu khi nhiệt độ vượt quá 28°C, khoảng từ tháng 4-5 trở đi, có khả năng xuất hiện hình thái này. Kinh Can, kinh Thiếu Dương (kinh Tam Tiêu, kinh Đởm) và kinh Dương Minh (kinh Vị, kinh Đại Trường) thực chứng. Cơ thể hỏa nhiệt và Can Tỳ bất hòa, sinh ra hiện tượng khí huyết tuần hoàn ở vùng ngực kém. Bình thường chỉ cần ngủ muộn hoặc lao lực quá độ, mệt mỏi tích tụ lâu ngày cũng sẽ xuất hiện hình thái kinh lạc này, đây là trạng thái phát triển cực điểm của biến thể “hình thái kinh lạc Tam Giác Sắt”.
Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

Tư vấn chuyên môn bài viết

Bác sĩ Phạm Thị Thu Hà

chủ nhiệm phòng khám Đông y Sơn Hà. Hơn 20 năm hành nghề khám chữa bệnh y học cổ truyền. Phục hồi và điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân bị sụp mí mắt, mắt lác (lé), song thị, mắt lồi, tổn thương dây thần kinh, polyp…

Viết một bình luận